- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tiến Tam và đồng bọn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Tiến T, Bùi Thế H, Bùi Văn V phạm tội Tàng tr trái phép chất ma túy.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2021/HSST Ngày: 25/5/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Bùi Văn Thức
Ông: Bùi Thanh Nông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Phƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đình Dƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:
1.BÙI TIẾN T, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1991 tại Kim Bôi, Hòa Bình. Nơi cư trú: xóm Mến B, xã Kim L huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn V và bà Quách Thị H; bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 29/12/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an huyện Kim Bôi. Được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
2.BÙI THẾ H, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1993 tại Kim Bôi, Hòa Bình. Nơi cư trú: xóm Mến B, xã Kim L, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Như E (đã chết) và bà Quách Thị V; có vợ là Bùi Thị T và có 02 con là Bùi Bảo N, sinh năm 2015 và Bùi Bảo C, sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 23/02/2013 bị cư ng chế đưa vào cơ s giáo dục b t buộc theo quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s giáo dục b t buộc số: 180 ngày 20/02/2013 của Chủ tịch U ban Nhân dân tỉnh Hoà Bình với thời hạn 12 tháng, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 30/12/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an huyện Kim Bôi. Được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
3.BÙI VĂN V, sinh ngày 13 tháng 12 năm 1990 tại Kim Bôi, Hòa Bình. Nơi cư trú: xóm Mến B, xã Kim L, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn V và bà Bùi Thị T; bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 01/5/2010 bị Công an huyện Kim Bôi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối tr t tự công cộng. Ngày 18/9/2018 bị Công an huyện Kim Bôi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, phạt tiền 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đ ng), đã chấp hành xong.
Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 30/12/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an huyện Kim Bôi. Được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bùi Văn Th, sinh năm 1993. Nơi cư trú: xóm Mến B, xã Kim L, Kim Bôi,
Hòa Bình – Có mặt
- Người chứng kiến:
Ông Đặng Hoàng Th, sinh năm 1968. Nơi cư trú: khu Thống N, thị trấn B, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình – Văng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 29/12/2020, Bùi Tiến T, Bùi Văn V đến chơi nhà Bùi Thế H tại: xóm Mến B, xã Kim L, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Tại đây, cả ba cùng nhau ăn cơm tối với hai người chú của H và vợ con của H. Ăn uống xong, các chú của H đi về trước, vợ và các con H vào phòng đi ngủ. Lúc này, H rủ T và V “lâu ngày anh em làm tý đá nhé” thì T và V đ ng ý. Cả ba cùng bàn bạc thống nhất m i người 100.000đ (một trăm nghìn đ ng) để đi mua ma tuý t ng hợp về sử dụng, do V chưa có tiền nên đã vay tiền của T để đóng góp h n chiều ngày 30/12/2020 s trả. Khi góp tiền xong, H đã gọi điện thoại cho Bùi Văn N, sinh năm: 1995, trú tại: xóm M, xã Kim L, huyện Kim Bôi h i được số điện thoại của người bán ma tuý. H gọi vào số này thì một người phụ n lạ nghe máy nói không có nhà, sau đó người này lại cho H số điện thoại một người bán ma tuý khác, H liên lạc và h n được người đó gặp thị trấn B, huyện Kim Bôi r i bảo T đi mua. T một mình điều khiển xe mô tô BKS: 90H9 – 2427 của V đi mua ma túy. Lên đến nơi, T gọi điện thoại vào số điện thoại H đã cho thì người đàn ông đó h n T ngã ba thị trấn B. Đợi một lúc lâu không thấy, T tiếp tiếp tục gọi thì người này bảo T “đang đi l y đồ” (“đ ” ý hiểu là ma tuý). Lúc này, thấy điện thoại hết pin, đợi không thấy nên T đi về.
Do đợi lâu không thấy T nên H gọi lại cho người đàn ông bán ma tuý thì người này bảo đi lên gặp đê Sông Bôi tại thị trấn B r i H điều khiển xe mô tô ch V đi lên thị trấn B tìm T. Khi đi đến đoạn dốc tại khu Bo, thị trấn B thì gặp T đang đi quay về, T bảo điện thoại hết pin chưa mua được ma tuý. Thấy v y, H bảo T quay lại đi đến ch H đã h n để mua, T một mình đi lên đê Sông Bôi gặp và mua được ma tuý của một người đàn ông lạ mặt với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đ ng). Sau khi có được ma túy, T cất số ma tuý trên vào túi áo ngực bên trái đang mặc r i điều khiển xe đi về.
Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, khi Bùi Tiến T đi đến đoạn g n Ng m Bo thuộc khu Thống Nhất thị trấn B thì bị t Công tác Công an huyện Kim Bôi b t quả tang, dẫn giải cùng tang v t về Trụ s U ban Nhân dân thị trấn B l p biên bản b t người phạm tội quả tang về hành vi tàng tr trái phép chất ma túy. Về phía Bùi Thế H và Bùi Văn V do đợi lâu không thấy T quay lại nên đã đi về nhà ngủ. Quá trình điều tra T đã khai nh n toàn bộ quá trình cùng Bùi Thế H, Bùi Văn V góp tiền bàn bạc, mượn xe mô tô của V để đi mua được số ma tuý trên, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh gi người trong trường hợp khẩn cấp và thi hành Lệnh b t người bị gi trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Thế H và Bùi Văn V.
Các vật chứng thu giữ được gồm:
- 01(một) đoạn ống hút nhựa màu tr ng dán kín hai đ u, bên trong ch a chất tinh thể màu tr ng nghi là ma túy.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen, BKS: 90H9 – 2427
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu đen, bên trong ch a sim số 0965795991.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOK 105, màu xanh - đen, số sê-ri: 358561082898338, bên trong ch a sim số 0966463356.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen - bạc, màn hình bị v , cảm ng bị h ng, không kiểm tra được số sêri, bên trong ch a sim số 0383940840. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bôi đã trả lại cho gia đình bị can Bùi Văn V quản lý.
Tại bản kết lu n giám định số: 394/KL ĐC T-PC09 ngày 05/01/2021 của Phòng k thu t hình sự công an tỉnh Hòa Bình kết lu n: “Ch t dạng tinh thể màu tr ng trong ng nh a màu tr ng trong phong ì niêm phong ghi “Tang vật: một đoạn ng h t nh a màu tr ng dán k n hai đầu, ên trong chứa ch t tinh thể màu tr ng nghi là ma t y thu gi của B i Tiến T n:
, tr tại: xóm Mến B – Kim L – im B i – Hòa Bình khi t qu tang vào ngày
tại khu Th ng Nh t – thị tr n B – Kim Bôi – Hòa Bình” gửi giám định có kh i lượng là 0,22g h ng phẩy hai mươi hai gam , là ma t y, loại MethampheTine” (MethampheTine n m trong danh mục , số th tự: 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ).
Tại Bản cáo trạng số:17/CT – VKS, ngày 12/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đã truy tố các bị cáo Bùi Tiến T, Bùi Thế H và Bùi Văn V về tội “Tàng tr trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự;
Tại phiên tòa :
- Các bị cáo Bùi Tiến T, Bùi Thế H và Bùi Văn V th a nh n hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; các bị cáo nh n tội, không kêu oan và xin được giảm nh m c hình phạt.
- Anh Bùi Văn Th khai : Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển kiểm soát 90H9-2427 màu đen - xám là do anh mua tại cửa hàng bán xe máy cũ tại Phủ Lý – Hà Nam vào khoảng tháng 4 năm 2020 với số tiền là 8.000.000 đ ng, số tiền mua xe là của anh đi làm mà có. Sau đó do đi làm xa không c n dùng đến xe nên anh đã cho anh trai là Bùi Văn V mượn để làm phương tiện đi lại hàng ngày. nh không biết việc Bùi Văn V cho Bùi Tiến T mượn chiếc xe này đi mua và tàng tr trái phép chất ma túy. Do đó, anh Th đề nghị Tòa án xem xét trả lại cho anh chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển kiểm soát 90H9-2427 màu đen – xám để làm phương tiện đi lại hàng ngày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử gi nguyên quyết định truy tố, tội danh và điều lu t áp dụng đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đ ng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Bùi Tiến T, Bùi Thế H và Bùi Văn V phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.
- Căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Tiến T, Bùi Thế H t 12 - 18 tháng tù giam.
- Căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Văn V t 12 - 18 tháng tù giam.
- Không áp dụng hình phạt b sung đối với các bị cáo.
- V t ch ng của vụ án: Căn c Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị :
+ Tịch thu, tiêu hủy 01(một) đoạn ống hút nhựa màu tr ng dán kín hai đ u, bên trong ch a chất tinh thể màu tr ng nghi là ma túy đã được niêm phong trong phong bì dán kín nguyên v n; Tịch thu sung công qu nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu đen, bên trong ch a sim số 0965795991; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOK 105, màu xanh - đen, bên trong ch a sim số 0966463356.
+Trả lại cho anh Bùi Văn Th01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen, BKS: 90H9 - 2427.
* Các ý kiến tranh lu n: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh lu n gì với đại diện Viện kiểm sát.
* Lời nói sau cùng : Các bị cáo đều nh n th c được hành vi tàng tr ma túy của mình là vi phạm pháp lu t và mong Hội đ ng xét xử cho hư ng m c án nh nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nh n định như sau:
Về t tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bôi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, nh ng người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo th a nh n đã có hành vi tàng tr trái phép 0,22 gam ma túy loại MethampheTine nh m mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người ch ng kiến; biên bản b t người phạm tội quả tang; bản kết lu n giám định cũng như các ch ng c , tài liệu khác có trong h sơ vụ án. Do v y Hội đ ng xét xử có đủ cơ s để kết lu n các bị cáo Bùi Tiến T, Bùi Thế H, Bùi Văn V đã phạm tội Tàng tr trái phép chất ma túy. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi đã truy tố là có căn c , đúng người, đúng tội.
Tính ch t, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các ị cáo và trách nhiệm hình s của từng ị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất tr t tự trị an địa phương, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp lu t khác. Các bị cáo là người có đ y đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nh n th c rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình đi mua và tàng tr trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân.
Trong l n phạm tội này, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có kế hoạch cụ thể, không có sự phân công rõ ràng khi thực hiện tội phạm nên hành vi của các bị cáo chỉ là đ ng phạm giản đơn. Bị cáo H là người kh i xướng, bị cáo T là người thực hành trực tiếp đi mua ma túy, bị cáo V là người giúp s c chuẩn bị phương tiện cho bị cáo T đi mua ma túy. Do v y, các bị cáo phải chịu hình phạt tương x ng với tính chất và m c độ hành vi phạm tội của mình.
Nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình s :
Bị cáo Bùi Thế H đã có 01 tiền sự, bị cáo Bùi Văn V đã có 02 tiền sự, mặc dù các bị cáo đều đã được xóa tiền sự xong lại không lấy đó làm bài học tu tỉnh, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục lao vào con đường phạm tội.
Do v y c n có m c án nghiêm kh c, cách ly bị các cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ng a tội phạm chung.
Tuy nhiên khi lượng hình xét thấy: Trong quá trình điều cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, t ra ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo Bùi Tiến T và bị cáo Bùi Thế H đều có ông nội được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất nên được hư ng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về hình phạt b sung: Trước khi phạm tội các bị cáo còn sống chung với bố m đẻ, là lao động tự do, không có tài sản, không thu nh p n định nên không áp dụng hình phạt b sung b ng tiền đối với các bị cáo.
Về các tình tiết khác của vụ án: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi làm rõ s xử lý theo quy định pháp lu t.
Về v t ch ng của vụ án:
Xét thấy c n tịch thu, tiêu hủy: 01(một) đoạn ống hút nhựa màu tr ng dán kín hai đ u, bên trong ch a chất tinh thể màu tr ng nghi là ma túy đã được niêm phong theo quy định pháp lu t.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu đen, bên trong ch a sim số 0965795991 thu gi của bị cáo bị cáo Bùi Tiến T và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOK 105, màu xanh, bên trong ch a sim số 0966463356 thu gi của bị cáo Bùi Thế H là công cụ phương tiện phạm tội dùng để trao đ i mua ma túy nên c n tịch thu sung công qu nhà nước.
+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen, BKS: 90H9 – 2427 là tài sản thuộc quyền s h u hợp pháp của anh Bùi Văn Th, anh Th không biết việc các bị cáo sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi mua ma túy nên c n trả lại anh Th.
Về án phí: Các bị cáo Bùi Tiến T, Bùi Thế H, Bùi Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Tiến T, Bùi Thế H, Bùi Văn V phạm tội Tàng tr trái phép chất ma túy.
2. Xử phạt: Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ lu t hình sự xử phạt bị cáo Bùi Tiến T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn thụ hình tính t ngày tạm gi , tạm giam 29/12/2020.
Xử phạt bị cáo Bùi Thế H 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn thụ hình tính t ngày tạm gi , tạm giam 30/12/2020
Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ lu t hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn V 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn thụ hình tính t ngày tạm gi , tạm giam 30/12/2020.
3. Về xử lý v t ch ng: Căn c điều 47 BLHS, điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu, tiêu hủy 01(một) đoạn ống hút nhựa màu tr ng dán kín hai đ u, bên trong ch a chất tinh thể màu tr ng nghi là ma túy đã được niêm phong trong phong bì dán kín nguyên v n, một mặt ghi: “Tang vật: 01(một) đoạn ng h t nh a màu tr ng dán k n hai đầu, bên trong chứa ch t tinh thể màu tr ng nghi là ma túy thu gi của B i Tiến T, Sn 1991, trú tại: xóm Mến B- Kim L - Kim Bôi - Hòa Bình khi bị b t qu tang vào ngày 29/12/2020, tại: khu Th ng Nh t - thị tr n B - Kim Bôi - Hòa Bình”, tại mép dán có dấu tròn đ niêm phong của Công an thị trấn B - Kim Bôi - Hòa Bình và ch ký của các thành viên tham gia niêm phong
+ Tịch thu sung công qu nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu đen, số sê ri: 358663048899444, bên trong ch a sim số 0965795991, tình trạng: điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOK 105, màu xanh - đen, số sê- ri: 358561082898338, bên trong ch a sim số 0966463356, tình trạng: màn hình bị v , máy cũ đã qua sử dụng.
+Trả lại cho anh Bùi Văn Th 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen, BKS: 90H9-2427, số khung: RLHJC4318AY166812, số máy: JC43E1424940, xe không có gương chiếu h u bên phải, có chìa khoá xe k m theo, tình trạng: xe cũ đã qua sử dụng.
( Các vật chứng nêu được ghi chi tiết tại Biên n giao nhận vật chứng ngày 14/04/2021 gi a Chi cục Thi hành án dân s huyện im B i, tỉnh Hòa Bình và C ng an huyện im B i, tỉnh Hòa Bình
4. Về án phí: Căn c vào khoản 2 Điều 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Bùi Tiến T, Bùi Thê H, Bùi Văn V m i bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đ ng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn c vào các Điều 331 và Điều 333 của Bộ lu t Tố tụng hình sự : Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - T ND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - S Tư pháp Hòa Bình; - VKSND huyện Kim Bôi; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Cơ quan điều tra – CA Kim Bôi; - Cơ quan TH hình sự - CA Kim Bôi; - Chi cục TH dân sự huyện Kim Bôi; - Lưu h sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thị Mai Linh |