vanban.org

Bản án 16/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 27/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Châu Thị H phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Châu Thị H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu Thị Hằng phạm tội Tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HS-ST
Ngày: 27-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Chí Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Thanh Học.

Bà Lâm Lệ Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Văn Ni – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2021, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Châu Thị H; sinh ngày 28/12/1993 tại H – Kiên Giang; nơi cư trú: Khu phố X, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Hoàng N và bà Trần Thị P2; có chồng tên Danh Thành T3, sinh năm 1993 và 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị tạm giữ ngày 17/12/2020, tạm giam ngày 23/12/2020. (có mặt)

Người làm chứng:

- Châu Anh K; (vắng mặt)

- Trần Trúc L; (vắng mặt)

- Châu Hoàng T; (vắng mặt)

- Lâm Vũ T2; (có mặt)

- Trần Thị P. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo nội dung bản Cáo trạng số: 12/CT-VKSHT ngày 24 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang đã truy tố Châu Thị H về hành vi mua bán trái phép chất ma túy như sau:

Khoảng 16 giờ, ngày 17/12/2020, Trần Trúc L, sinh năm 1990, trú tại Khu phố Y, phường Y, thành phố H điện thoại cho Châu Thị H hỏi mua một bịch ma túy 500.000 đồng thì H đồng ý bán. Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, Châu Thị H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68N1- 073.52 đến khu vực tượng đài M thuộc Khu phố Y, phường T, thành phố H để giao ma túy cho Trần Trúc L. Tại đây, khi Châu Thị H và Trần Trúc L vừa giao dịch mua bán ma túy xong thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên người của Trần Trúc L 01 bọc nylon kích thước (3,8 x 1,8)cm được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng là chất ma túy vừa mua của H; thu giữ trên người của Châu Thị H 01 tờ tiền Ngân hàng Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng là tiền bán ma túy cho Trần Trúc L. Ngoài ra, Châu Thị H còn tự nguyện giao nộp 21 bọc ma túy cất giấu nhằm mục đích bán cho lại cho người khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Châu Thị H về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Vật chứng trong vụ án:

1) Một bọc nylon kích thước (3,8 x 1,8) cm, được hàn kín, bên trong có chứa các tinh thể rắn màu trắng là chất ma túy (tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 0,0468 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1067/2020/gói 01);

2) 21 (hai mươi mốt) bọc nylon (trong đó, 20 bọc kích thước (4,2 x 1,2) cm và 01 bọc kích thước (7,3 x 02) cm) được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng là chất ma túy (tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 2,8477 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1067/2020/gói 02);

3) 02 (hai) chiếc túi loại cầm tay, một màu xám và một màu nâu (đã qua sử dụng);

4) 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020, màu xanh đen, số Imei 1: 866967044311713, số Imei 2: 866967044311705, có gắn sim mang số: 0989.039.370 (đã qua sử dụng);

5) 01 (một) xe máy biển kiểm soát 68N1-073.52, nhãn hiệu SYM, số loại ATTILA, màu đỏ, số khung: GKA11CDDD043659, số máy: VMVUACD043659 (đã qua sử dụng);

6) 01 (một) tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng, số Seri RZ 17602817 (qua giám định là tiền thật).

Các vật chứng mục số 1 đến mục số 5 hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H; vật chứng mục số 6 hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước thành phố H.

Tại Bản kết luận giám định số 1067/KL-KTHS ngày 21/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận (BL 23).

- Gói 01: Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 (một) bọc nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0662 gam.

- Gói 02: Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 21 (hai mươi mốt) bọc nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,8681 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/ NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định:

- Gói 1: Tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 0,0468 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1067/2020/gói 01.

- Gói 2: Tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 2,8477 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1067/2020/gói 02.

Ngoài ra trong quá trình điều tra, Châu Thị H khai nhận ngoài lần bị bắt quả tang, trước đó còn bán nhiều lần khác, cụ thể như sau:

- Ngoài lần bị bắt quả tang ngày 17/12/2020, trong khoảng thời gian từ tháng 09/2020 đến tháng 10/2020 Châu Thị H còn bán trái phép chất ma túy cho Trần Trúc L 05 lần với số tiền mỗi lần là 500.000 đồng, thu được số tiền 2.500.000 đồng.

- Trong khoảng thời gian từ tháng 08/2020 đến tháng 10/2020 Châu Thị H bán trái phép chất ma túy cho Châu Hoàng T (tên gọi khác là T4), sinh năm 1988 trú tại Khu phố Y, phường T, thành phố H, 02 lần, một lần với số tiền 300.000 đồng và 01 lần với số tiền 200.000 đồng, thu được số tiền 500.000 đồng.

- Bán trái phép chất ma túy cho Châu Anh K (tên gọi khác là C), sinh năm 1996, trú tại Khu phố Q, phường T, thành phố H 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng, thu được số tiền 400.000 đồng.

Ngoài ra, Châu Thị H khai nhận còn bán trái phép chất ma túy cho người thanh niên tên thường gọi là “VP” ở khu vực Chùa Sập thuộc phường M, thành phố H 03 lần, mỗi lần 200.000 đồng; bán trái phép chất ma túy cho một người thanh niên tên “T5” không rõ họ tên, địa chỉ 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng và 04 người đàn ông không rõ họ tên địa chỉ 20 lần, mỗi lần với số tiền 200.000 đồng. Tổng số tiền H thu được là 5.000.000 đồng.

Tại thời điểm bắt quả tang thu giữ trên người Trần Trúc L 01 bọc ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0662 gam, Trần Trúc L mua ma túy nhằm mục đích sử dụng nên không cấu thành tội phạm. Đối với Châu Hoàng T, Châu Anh K mua ma túy của H mục đích sử dụng nhưng không xác định được khối lượng ma tý; “VP” và “T5” không rõ địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Châu Thị H phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy vật chứng là: Tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 0,0468 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 1067/2020/gói 01; Tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 2,8477 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 1067/2020/gói 02, hai chiếc túi loại cầm tay, một màu xám và một màu nâu; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020; 01 xe máy biển kiểm soát 68N1-073.52, nhãn hiệu SYM; 01 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng. Buộc bị cáo nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.400.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do bán ma túy mà có.

- Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nói biết mình sai và rất ăn năn, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và chứng minh tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30, ngày 17/12/2020, tại khu vực tượng đài M thuộc Khu phố Y, phường T, thành phố H, Châu Thị H bán trái phép cho Trần Trúc L 01 bọc ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0662 gam thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang. Qua làm việc, Châu Thị H tự nguyện giao nộp 21 bọc ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,8681 gam, cất giấu mục đích bán lại kiếm lời. Trong quá trình điều tra, Châu Thị H khai nhận ngoài lần bị bắt quả tang ngày 17/12/2020, Châu Thị H còn bán trái phép chất ma túy 05 lần cho Trần Trúc L, mỗi lần 500.000 đồng; Châu Hoàng T 02 lần, một lần 200.000 đồng và 01 lần 300.000 đồng; Châu Anh K 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng. Thu được tổng số tiền là 3.400.000 đồng. Hành vi của bị cáo H đã cấu thành Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, cụ thể:

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên; ...”

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo hoàn toàn có đầy đủ năng lực nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Chỉ vì hám lợi, muốn có tiền nhanh chóng mà bị cáo đã thực hiện hành vi xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo không những làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương mà còn gián tiếp gây nguy hại cho sức khỏe của người khác khi sử dụng chất ma túy. Trên các phương tiện thông tin đại chúng thường tuyên truyền về tác hại của ma túy, cũng như Nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy. Thế nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố tình thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, bán ma túy cho nhiều đối tượng nghiện khác nhau để thu lời bất chính, điều đó cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật, hành vi của bị cáo phạm vào điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.

Xét về nhân thân: Tài liệu về lý lịch thể hiện bị cáo có nhân thân tốt, bản thân không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi vi phạm, sau khi bị bắt quả tang, bị cáo tự nguyện khai ra những lần phạm tội trước được xem là tự thú. Vì vậy, cần xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, gia đình bị cáo giao nộp cho Hội đồng xét xử 01 bảng truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho bà Đỗ Thị T6, là bà cố nội của bị cáo; 02 bảng “Tổ quốc ghi công” tên Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn Đ, là ông cậu ruột của bị cáo. Đây là tình tiết có lợi cho bị cáo cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về áp dụng hình phạt: Xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo sao cho vừa đảm bảo tính giáo dục, vừa răn đe phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận và phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian đủ để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Cần tịch thu, tiêu hủy vật chứng là: Tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 0,0468 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 1067/2020/gói 01; Tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 2,8477 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 1067/2020/gói 02; Hai chiếc túi loại cầm tay, một màu xám và một màu nâu; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020; 01 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng. Đối với vật chứng là 01 xe máy biển kiểm soát 68N1-073.52, nhãn hiệu SYM: Bị cáo trình bày mua xe lại của người khác không có giấy tờ, hợp đồng chứng minh việc mua bán xe. Qua xác minh thể hiện chiếc xe trên đứng tên chủ xe là Võ Thị N, tuy nhiên hiện không làm việc được với bà N do bà N bỏ địa phương đi nơi khác sinh sống không trình báo địa phương (Bút lục 51, 113). Xét thấy cần giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H tiếp tục bảo quản và thông báo truy tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp chiếc xe nêu trên. Nếu trong thời hạn quy định tại Điều 228 của Bộ luật Dân sự (01 năm) kể từ ngày thông báo công khai mà chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có yêu cầu thì sẽ xem xét giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, hết thời hạn nêu trên thì chiếc xe sẽ được tịch thu hóa giá để sung vào ngân sách nhà nước.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.400.000 đồng, là số tiền thu lợi bất chính của bị cáo bán ma túy cho nhiều người khác mà có.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

- Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố bị cáo Châu Thị H phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Châu Thị H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2020.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ Hai chiếc túi loại cầm tay, một màu xám và một màu nâu - đã qua sử dụng;

+ Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T, người chứng kiến niêm phong Lê Thế V và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, gồm có:

Gói 1: Tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 0,0468 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1067/2020/gói 01;

Gói 2: Tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 2,8477 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1067/2020/gói 02.

- Hóa giá, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020, màu xanh đen, số Imei 1: 866967044311713, số Imei 2: 866967044311705, có gắn sim mang số: 0989.039.370 - đã qua sử dụng.

- Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H tiếp tục bảo quản và thông báo truy tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp một xe máy biển kiểm soát 68N1-073.52, nhãn hiệu SYM, số loại ATTILA, màu đỏ, số khung: GKA11CDDD043659, số máy: VMVUACD043659 - đã qua sử dụng. Nếu trong thời hạn quy định tại Điều 228 của Bộ luật Dân sự (01 năm) kể từ ngày thông báo công khai mà chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có yêu cầu thì sẽ xem xét giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, hết thời hạn nêu trên thì chiếc xe sẽ được tịch thu hóa giá để sung vào ngân sách nhà nước.

Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H theo Quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKSHT ngày 24/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/3/2021 giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Vật chứng trên hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước thành phố H theo Công văn số 04/CQĐT ngày 19/01/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố H, Biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 02/2021-BBBQ-KBHT ngày 20/01/2021 giữa đại diện Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố H và Kho bạc nhà nước thành phố H, Phiếu nhập kho ngày 20/01/2021 của Kho bạc nhà nước thành phố H.

3. Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Châu Thị H nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có là 3.400.000đ (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Châu Thị H nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ