vanban.org

Bản án 16/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 18/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 16/2021/HS-ST;

Ngày: 18-3-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Long;

2/ Bà Dương Thị Hương.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký

Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho – tỉnh Tiền Giang

tham gia phiên tòa: Ông Danh Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho,

xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 120/2020/HSST ngày 18 tháng

12 năm 2020, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2021/QĐXXST-HS ngày 28

tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2021/HSST-QĐ ngày 01

tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Ngô Văn T sinh năm 1997, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú và chổ ở: ấp B,

xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 08/12;

dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông

Ngô Văn T1 sinh năm 1971 và bà Võ Thị Kim H sinh năm 1973; Bị cáo chưa có

vợ chưa có con; tiền sự: Không có; tiền án: Không có. Bị cáo đang chấp hành

quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Võ Minh L, sinh năm 2002 (có mặt);

Nơi cư trú: ấp B, xã Bình Phục N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Võ Thanh T2, sinh năm 1986 (vắng mặt);

Nơi cư trú: số 14/3B đường Đ, phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền

Giang.

- 2 -

2. Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1985 (vắng mặt);

Nơi cư trú: số 222 đường N, ấp M, xã M, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền

Giang.

3. Ngô Văn T1, sinh năm 1971 (vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Người làm chứng:

1. Phạm Thái H, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Nơi cư trú: số 228/5 đường Đ, phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền

Giang.

2. Phạm Vũ T2, sinh năm 2001 (có mặt);

Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 15/10/2019, bị cáo Ngô Văn T điện thoại

cho Võ Minh L đến quán cà phê của Nguyễn Thái H tại địa chỉ số 228/5, đường Đ, phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xem đá bóng. Khoảng 09 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ - đen, biển số 63B4- 651.36 do L là chủ sở hữu chở theo Phạm Vũ T đến gặp bị cáo T tại quán của H. Khi L và T vừa đến, bị cáo T hỏi mượn xe mô tô của L để đi công việc thì L đồng ý. Bị cáo T kêu L và T ngồi uống nước tại quán của H đợi bị cáo T về. Khi được L cho mượn xe, bị cáo T điều khiển xe mô tô trên đến tiệm game bắn cá trên đường Thái Sanh Hạnh giao với đường Trần Thị Thơm mua ma túy của một người phụ nữ tên H (không rõ họ tên, địa chỉ) để sử dụng và chơi game bắn cá. Trong quá trình chơi game, bị cáo T thua hết tiền nên nảy sinh ý định lấy xe mô tô của L đi cầm lấy tiền. Bị cáo T cầm xe mô tô của L cho Võ Thanh T1 với giá 2.000.000 đồng. Bị cáo T sử dụng số tiền này chơi game bắn cá thua hết. Sau đó, bị cáo T về quán nước của H nói dối với L xe mô tô của L đã bị Công an tạm giữ vì bị cáo T điều khiển không đội mủ bảo hiểm và kêu L cùng với T ngủ lại quán của H để sáng mai bị cáo T nhờ người lấy xe ra trả lại cho L. Sáng hôm sau, bị cáo T kêu L đưa cho bị cáo T giấy đăng ký xe của L để bị cáo T đi lấy xe về. Tin theo lời của bị cáo T. L giao giấy đăng ký xe cho bị cáo T, khi có được giấy đăng ký xe bị cáo T tiếp tục đến cầm cho Võ Thanh T1 được số tiền 3.500.000 đồng. Sau khi có được tiền từ việc cầm xe bị cáo T chơi game bắn cá thua hết tiền nên bỏ trốn nhằm chiếm đoạt xe của L. L không thấy bị cáo T trả lại xe nên đã trình báo Công an huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Đối với Võ Thanh T1 và Nguyễn Hoàng M người nhận cầm xe mô tô biển

số 63B4- 651.36, do T1 và M không biết xe này là tài sản Thơ chiếm đoạt của người khác nên cơ quan điều tra không xử lý T1 và M về hành vi “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- 3 -

Đối với người phụ nữ tên H đã bán ma túy cho bị cáo T do bị cáo T không

cung cấp được họ tên địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra chưa triệu tập ghi lời

khai được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử

lý sau.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 3035 ngày 16/6/2020 của Hội

đồng định giá tài sản thành phố Mỹ Tho kết luận: 01 xe mô tô hiệu YAMAHA

SIRIUS màu đỏ - đen, biển số 63B4- 651.36, số máy E3X9E573522, số khung

RLCUE3240JY213370, trị giá 15.400.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSMT ngày 15 tháng 12 năm 2020 của Viện

kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Lạm

dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự

năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho vẫn giữ

nguyên quan điểm về tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng đã truy tố và

đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều

50, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn T

từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về vật chứng: 01 xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ - đen, biển

số 63B4- 651.36, số máy E3X9E573522, số khung RLCUE3240JY213370, 01

giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 047266 mang tên chủ xe Võ Minh

L. Sau khi tiến hành định giá, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trả lại

cho anh Võ Minh L chủ sở hữu của xe mô tô trên. Đại diện Viện kiểm sát đề

nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định

trả lại cho bị hại Võ Minh L.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị hại Võ Minh L không

có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì khác. Đối với ông Ngô Văn T1 (cha của

T), ông T1 đã dùng số tiền 7.300.000 đồng của mình để chuộc xe trả lại cho bị

hại L. Ông T1 không yêu cầu bị cáo T hoàn trả số tiền này.

Phát biểu tự bào chữa của bị cáo Ngô Văn T: Bị cáo thừa nhận hành vi

phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra

thành phố Mỹ Tho, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho,

Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền,

trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình

điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và

người làm chứng không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định

tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi

và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng

- 4 -

đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và

người làm chứng. Những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Trong quá trình điều tra, những người tham gia tố tụng nêu trên đã có lời khai cụ thể, đầy đủ, rõ ràng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây khó khăn cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 và Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sư, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn T đã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã

thực hiện đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 15/10/2019 tại quán cà phê của Nguyễn Thái H tại địa chỉ số 228/5 đường Đ, phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Ngô Văn T đã có hành vi gian dối, sau khi mượn được xe mô tô biển số 63B4-651.36 của bị hại Võ Minh L rồi đem cầm cố cho Võ Thanh T2 và Nguyễn Hoàng M lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tài sản bị chiếm đoạt trị giá 15.400.000 đồng nên bi cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo T có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện nên bị cáo T đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 1, Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã đưa ra chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo T về tội phạm nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật Nhà nước ta bảo vệ, hành vi đó không chỉ làm thiệt hại đến tài sản của người khác, mà còn gây hoang mang làm cho nhân dân không an tâm lao động, sản xuất, gây mất trật tự xã hội.

Đối với Võ Thanh T1 và Nguyễn Hoàng M khai nhận có nhận cầm xe

của bị cáo T. Do T1 và M không biết đây là xe do bị cáo T phạm tội mà có nên không có cơ sở xử lý hình sự đối với T1 và M là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật.

- 5 -

Đối với người phụ nữ tên H đã bán ma túy cho bị cáo T do bị cáo T

không cung cấp được họ tên địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra chưa triệu tập

ghi lời khai được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, có căn

cứ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật.

Về nhân thân của bị cáo Ngô Văn T:

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Không có. Tuy nhiên, ngày 16/3/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân

huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang ra quyết định số 07/2020/QĐ-TA về việc áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn

15 tháng.

Qua đó, Hội đồng xét xử nhận định bị cáo T là người có nhân thân xấu, bị

cáo không có ý thức tu dưỡng bản thân để trở thành công dân tốt. Vì vậy cần

phải có một hình phạt thật nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời

gian để cải tạo cho bị cáo biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị

cáo T đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã nhờ cha của bị cáo trả tiền

cho Nguyễn Hoàng M để nhận lại xe trả lại cho bị hại L, bị hại có đơn xin giảm

nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51

Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Bị cáo T có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định

khoản 1 Điều 51 và tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm

2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào

quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, bị cáo

đã bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử cần xem xét

khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Minh L đã nhận lại xe và không có

yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ông Ngô Văn T1 (cha của bị cáo T), ông T1 đã dùng số tiền

7.300.000 đồng của mình để chuộc xe trả lại cho bị hại L, ông T không yêu cầu

bị cáo T hoàn trả số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa

đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trả lại cho anh Võ Minh L chủ

sở hữu của xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ - đen, biển số 63B4-

651.36.Việc xử lý vật chứng như trên là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội

đồng xét xử ghi nhận.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt là có

căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

- 6 -

Về án phí: Bị cáo Ngô Văn T phải chịu án phí theo quy định pháp

luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài

sản”.

Căn cứ điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và điểm a khoản 1

Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Ngô Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ

sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Ghi nhận bị hại Võ Minh L đã nhận lại xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS

màu đỏ - đen, biển số 63B4- 651.36.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí

hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ