- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thịnh Đạt ""đánh bạc"" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Thịnh Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2021/HS-ST Ngày 30-03-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng.
2. Ông Đặng Văn Đê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Nam - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2021/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 03 năm 2021 đối với bị cáo:
Trương Thịnh Đ, sinh năm 1983 tại B; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 596 Cách Mạng Tháng Tám, khu phố 4, phường P, thành phố B, tỉnh B; nơi đã lưu trú: Số 209/3 đường 27/4 phường P, thành phố B, tỉnh B; Nghề nghiệp: Dạy nhạc; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Trương Văn L (đã chết); Mẹ: Đỗ Thị M, sinh năm 1954; Vợ: Tô Thị Mỹ Ph, sinh năm: 1999; con: Trương Bá H, sinh năm 2019.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định số 0002054/QĐ-XPVPHC ngày 04-10-2019 của Công an thành phố B xử phạt 2.500.000đ(Hai triệu năm trăm ngàn đồng) về hành vi đánh bạc trái phép (đã đóng tiền phạt ngày 13-01-2020).
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt tại phiên tòa).
+ Người làm chứng:
1/ Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1983; Trú tại: Số 82 Bạch Đằng, khu phố 2, phường P, thành phố B, tỉnh B.
2/ Bà Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1983; Trú tại: Số 460/4 Điện Biên Phủ, tổ 4, khu phố 2, phường P, thành phố B, tỉnh B.
3/ Ông Phan Thái H ,sinh năm 1982; Trú tại: Ấp Bắc 3, xã H, thành phố B, tỉnh B.
4/ Ông Bùi Khánh L, sinh năm 1983; Trú tại: 26 Nguyễn Thị Định, khu phố 2, phường P, thành phố B, tỉnh B.
5/ Ông Phan Duy H, sinh năm 1982; Trú tại: 3600 hẻm 585 Cách mạng Tháng Tám, khu phố 2, phường P, thành phố B.
6/ Ông Lê Đình M, sinh năm 1970; Trú tại: Số 460 Điện Biên Phủ, phường P, thành phố B, tỉnh B.
(tất cả những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 19-02-2020, Công an phường P kiểm tra, phát hiện 02 nhóm đánh bạc xảy ra tại địa bàn khu phố 2, phường P thành phố B. Nhóm thứ nhất gồm: Trương Thịnh Đ; Nguyễn Thị Bích T, Phạm Thị Thanh H, Phan Thái H, Bùi Khánh L, Phan Duy H, đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua được thua bằng tiền do B (chưa rõ nhân thân lại lịch) làm cái. Nhóm thứ 02 gồm: Phan Thanh S, Bạch Thị H, Nguyễn Ngọc D và K (chưa rõ nhân thân lai lịch) đánh bạc dưới hình thức đánh bài tiến lên được thua bằng tiền. Công an phường P đã lập biên bản chung của 02 vụ án trên; Tang vật chung thu giữ: 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua; 01 bộ bài tây và 300.000 đồng.
Trong vụ án này, bị cáo và các đối tượng trên tiến hành lắc bầu cua. Cách thức chơi: Đặt 01 tờ giấy có in các hình bầu cua, tôm, cá, gà, nai trên nền gạch. Người chơi đặt cược bằng cách đặt tiền vào ô có con vật mình chọn. Người làm cái cầm dĩa có 03 quân xúc lắc, mỗi mặt có hình bầu cua, tôm, cá, gà, nai và tô úp ngược lên để lắc xong đặt xuống nền. Nếu mặt trên cùng của 03 hạt sau khi lắc xuất hiện con vật nào tương ứng với người chơi đặt cược thì người đó thắng và thắng tiền theo tỷ lệ 1:1. Nếu không có con vật nào của người chơi xuất hiện thì người làm cái thắng.
Tại cơ quan điều tra:Đ khai nhận đem theo 130.000 đồng, dùng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, trước khi bị bắt quả tangĐ thua 100.000 đồng. Số tiền 30.000 đồng, ngày 29-01-2021Đ giao nộp cho cơ quan điều tra.
H khai nhận đem theo 100.000 đồng, dùng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, trước khi bị bắt quả tang H thua 100.000 đồng.
T khai nhận đem theo 100.000 đồng, dùng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, trước khi bị bắt quả tang T thua 100.000 đồng.
H khai nhận đem theo 40.000 đồng, dùng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, trước khi bị bắt quả tang H thua 10.000 đồng
Còn L và H, hiện không có mặt tại địa phương nên không xác định được số tiền dùng để đánh bạc.
Qua xác minh, ngày 04-10-2019 Trương Thịnh Đ bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài Mậu binh theo quyết định số 0002054/QĐ-XPVPHC với số tiền 2.500.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
+ Đối với 01 bộ bài tây và số tiền 130.000đ đã được xử lý khi xét xử bị cáo Phan Thanh S phạm tội “đánh bạc”.
+ Đối với 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua và 200.000đ (trong đó 170.000 đồng thu tại chiếu bạc và bị cáo nộp lại 30.000đ tiền đánh bạc hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự tạm giữ chờ xử lý
Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSBR ngày 02-03-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh B truy tố bị cáo Trương Thịnh Đ về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do bị cáo gây ra, cũng như đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Thịnh Đ về tội “Đánh bạc”; áp dụng Điều 36; Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Thịnh Đ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; khấu trừ thu nhập: 5.000.000đ/tháng x 5% = 250.000đ/tháng; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua; Tịch thu sung công quỹ nhà nước 200.000đ.
- Bị cáoĐ khai nhận bản thân làm nghề dạy nhạc mức thu nhập bình quân 5.000.000đ/tháng; bị cáo thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì thêm mà chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Qúa trình điều tra, truy tố, các hành vi, Quyết định của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản làm việc, hỏi cung, phù hợp với biên bản làm việc, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 21 giờ ngày 19-02-2020, tại nhà căn nhà hoang thuộc hẻm 460 Điện Biên Phủ, khu phố 2, phường P, thành phố B, tỉnh B,Đ cùng Nguyễn Thị Bích T, Phạm Thị Thanh H, Phan Thái H, Bùi Khánh L, Phan Duy H, B (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đánh bạc (hình thức lắc bầu cua) ăn thua bằng tiền thì bị Công an phường P phát hiện và lập biên bản vụ việc. Trên cơ sở lời khai, bị cáo sử dụng 130.000đ để đánh bạc và thua 100.000đ; H sử dụng 100.000đ để đánh bạc và thua hết; T sử dụng 100.000đ để đánh bạc và thua hết; H sử dụng 40.000đ để đánh bạc thua10.000đ. Do đó, chỉ có thể xác định số tiền bị cáo dùng để đánh bạc ngày ngày 19-02-2020 là 370.000 đồng. Mặc dù số tiền bị cáo dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng vì bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo đã có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự đúng như Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “ 1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Hành vi đánh bài lắc bầu cua nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng tiêu cực đến nếp sống văn minh và gây mất trật tự, trị an ở địa phương, đây cũng là một trong những nguyên nhân gián tiếp của các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp, cướp giật … Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được đánh bài “lắc bầu cua” là một hình thức đánh bạc trái phép, nhưng vì hám lợi nên đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình có hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận, là lao động chính trong gia đình, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét bị cáo có việc làm ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, do đó, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, phù hợp với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Về khấu trừ thu nhập: Xét bị cáo có việc làm và thu nhập ổn định nhưng do bị cáo là lao động chính nuôi gia đình nên chỉ khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của bị cáo theo khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự là phù hợp. Bị cáo khai thu nhập bình quân 5.000.000đ/tháng.
Khấu trừ thu nhập của bị cáo Trương Thịnh Đ: 08 tháng x 5.000.000đ/tháng x 5% = 2.000.000đ (hai triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước. Hàng tháng bị khấu trừ thu nhập số tiền 250.000đ (hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên cần miễn phạt tiền.
Vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Thị Bích T, Phạm Thị Thanh H, Phan Thái H; Bùi Khánh L, Phan Duy H là những người có hành vi đánh bạc trái phép nhưng do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp quy định của pháp luật; đối với đối tượng tên B là người làm cái, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
Đối với nhóm Phạn Thanh S đánh bạc tiến lên đã bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua là công cụ để bị cáo phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với số tiền 200.000đ thu giữ là tiền dùng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Trương Thịnh Đ phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Trương Thịnh Đ 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh B nhận được quyết định thi hành án hình phạt cải tạo không giam giữ và bản sao bản án.
Giao Trương Thịnh Đ cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh B giám sát, giáo dục.
Gia đình bị cáo Trương Thịnh Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc loa động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo Khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Khấu trừ thu nhập: Bị cáo Trương Thịnh Đ bị khấu trừ thu nhập số tiền 250.000đ (hai trăm năm mươi ngàn đồng)/tháng để sung công quỹ nhà nước. Thực hiện việc khấu trừ trong thời gian 8 tháng.
Trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc loa động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo Khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua; Tịch thu sung công quỹ nhà nước 200.000đ.
(Các vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 38/BB.THA ngày 03-03-2021 và biên lai thu tiền số: TT/2020/0003005 ngày 03/3/2021).
Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ,buộc Trương Thịnh Đ phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - VKSND thành phố Bà Rịa; - Công an thành phố Bà Rịa; - CCTHA dân sự thành phố Bà Rịa; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) BÙI CÔNG THÀNH |