- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trứ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRUỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:16/2021/HS-ST Ngày: 15 - 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng Minh;
Ông Nguyễn Minh Đức.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tùng - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2020/TLST-HS, ngày 16 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Đinh Văn V, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1984; nơi cư trú: Xóm 13, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn B và bà Trần Thị L; gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ 03; có vợ là Đinh Thị H, sinh năm 1989; có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án: Ngày 05/02/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/12/2018; tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 10/12/2020 đến ngày 15/12/2020 chuyển tạm giam đến nay; “có mặt tại phiên tòa”.
- Người làm chứng: Anh Trần Văn N, “vắng mặt”.
- Người chứng kiến:
1. Chị Đinh Thị H, “có mặt”;
2. Ông Bùi Văn X, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 05 phút, ngày 10/12/2020, Đinh Văn V đi xe mô tô biển kiểm soát 18F1 – 07.077 từ nhà đến nhà bạn cùng xóm là Trần Văn N để rủ N cùng đi uống Methadone ở Trung tâm Y tế huyện Xuân Trường. Trên đường đi, V rủ N mỗi người bỏ ra 100.000đ để đi mua Heroine về cùng sử dụng; N nhất trí và bảo V cứ bỏ cả tiền ra mua giúp N 100.000đ, khi về nhà N sẽ trả tiền. Khi đến khu vực tổ 5, thị trấn Xuân Trường thì V dừng xe và bảo N xuống đi mua bơm kim tiêm, còn V đi mua Heroine. Sau đó, N vào hiệu thuốc tây ven đường mua 02 bơm kim tiêm hết 10.000đ và đứng ở đường chờ; V đi xe máy đến khu vực tổ 2, thị trấn Xuân Trường, huyện Xuân Trường gặp một người đàn ông lạ mặt, không rõ tên, tuổi, địa chỉ, qua dò hỏi V biết người này có bán ma túy và hỏi mua của người này 200.000đ tiền Heroine; người này nhất trí, nhận tiền và đưa lại cho V 02 đoạn ống nhựa nhỏ (01 ống màu vàng, 01 ống màu da cam) kích thước (1x2)cm đều hàn kín hai đầu, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng mà V xác định là Heroine, V cầm 02 ống nhựa trong lòng bàn tay trái rồi đi xe về đón N. Gặp Ngọc, V nói với N là đã mua được Heroine, N lên xe và cả hai chở nhau đi uống Methadone và thống nhất khi uống xong V sẽ đưa cho N 01 ống ma túy để N về nhà sử dụng, không sử dụng chung.
Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi V và N đi đến tổ 18, thị trấn Xuân Trường, huyện Xuân Trường thì bị Tổ công tác Công an huyện Xuân Trường phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. V và N chấp hành, thành khẩn khai nhận hành vi rủ nhau mua ta túy về sử dụng cho bản thân, N tự nguyện giao nộp 02 ống nhỏ vừa mua được. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 02 đoạn ống nhựa nhỏ ký hiệu M. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của V số tiền 1.200.000đ cùng chiếc xe mô tô V do V điều khiển; thu giữ của N số tiền 1.300.000đ và 02 bơm kim tiêm.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Văn V và Trần Văn N nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 1255/GĐKTHS ngày 10/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 ống nhựa nhỏ hàn kín hai đầu được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại ma túy là Heroine; tổng khối lượng mẫu M là 0,109 gam. Trong đó, ống màu da cam có khối lượng 0,055 gam, ống màu vàng có khối lượng 0,054 gam.
Tại cơ quan điều tra, Đinh Văn V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành đi mua ma túy về sử dụng như đã nêu và không có khiếu nại về kết luận giám định trên.
Cáo trạng số 12/CT-VKS, ngày 15/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Đinh Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Đinh Văn V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Đinh Văn V từ 25 đến 27 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, cho tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo.
Tịch thu của bị cáo V 100.000đ để sung ngân sách Nhà nước; Trả lại số tiền 1.200.000đ cho bị cáo V nhưng tiếp tục được lưu giữ lại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường để đảm bảo cho việc thi hành án.
Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc kết tội:
Đinh Văn V là người rủ Trần Văn N đi mua Heroine về cùng sử dụng, Ngọc đồng ý nhưng chưa góp tiền cho V. V tự bỏ 200.000đ, trực tiếp đi mua ma túy và cất giữ 02 ống nhỏ Heroine nên Trần Văn Nchỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ khối lượng Heroine tương ứng số tiền 100.000đ là 0,109/2= 0,545 gam; còn Đinh văn V phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ khối lượng Heroine tương ứng số tiền 200.000đ là 0,109 gam.
Đối với Trần Văn N: Hành vi tàng trữ Heroine của Trần Văn N chưa đủ yếu tố cầu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều 249 của Bộ luật Hình sự. Công an huyện Xuân Trường đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngọc là phù hợp.
Đối với Đinh Văn Vang: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Ngày 10/12/2020, tại khu vực tổ 18, thị trấn Xuân Trường, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Đinh Văn V đã có hành vi cất giấu 0,109 gam Heroine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của Đinh Văn V đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản..., làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo đã có tiền án về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; là người nghiện ma túy nên bị cáo đã thấu hiểu được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tài phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng thu giữ:
Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành và 02 bơm kim tiêm không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18F1- 070.77: Cơ quan điều tra xác định được đây là tài sản hợp pháp của chị Đinh Thị H, vợ bị cáo. Chị H không biết bị cáo dùng xe này để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chị H là phù hợp.
Đối với số tiền 1.300.000đ thu giữ của Trần Văn N: Trong đó có 100.000đ Ngọc trả cho Vvì nhờ V mua ma túy. Còn lại 1.200.000đ là tiền do N lao động ma có nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Trần Văn N là phù hợp.
Đối với số tiền thu giữ của Đinh Văn V: Khi bắt giữ Công an đã thu giữ của V 1.200.000đ của V, đây là tiền do V lao động mà có nên trả lại cho V. Ngoài ra còn có số tiền 100.000đ N nhờ V mua ma túy, đây là tiền dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung ngân sách nhà nước. Nhưng số tiền 1.200.000đ của bị cáo V tiếp tục được lưu giữ lại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường để đảm bảo cho việc thi hành án.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không đủ cơ sở kết luận nên đã tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
Xử phạt bị cáo Đinh Văn V 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/12/2020.
2. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1255/GĐKTHS ngày 10/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và 02 bơm kim tiêm.
Tịch thu 100.000đ trong tổng số tiền thu giữ 1.300.000đ của bị cáo Đinh Văn V để sung ngân sách Nhà nước và trả lại cho bị cáo Đinh Văn V số tiền còn lại là 1.200.000đ nhưng tiếp tục được lưu giữ lại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường để đảm bảo cho việc thi hành án.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 23/THA và Biên lai thu tiền số AA/2017/0001165 cùng ngày 30/3/2021 giữa Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Đinh Văn V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Xuân T - Chi cục THADS huyện - Công an huyện X; - UBND xã X; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Minh Đức Nguyễn Hồng Minh | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Long THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Long |