- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Dương Tấn V phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 16/2021/HS-ST Ngày: 13/04/2021 |
HUYỆN TRÀ CÚ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Đầy Bà Trần Thị Tím - Thư ký phiên tòa:Bà Kim Thị Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Nở - Kiểm sát viên. Ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo: Dương Tấn V, sinh năm 1984 tại TC. Nơi cư trú: k5, thị trấn TC, huyện T C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn C, sinh năm 1952 và bà Tải Thị B, sinh năm 1954; vợ là Võ Thị Mỹ H, sinh năm 1987 và có 03 người con; Tiền án: Không có; Tiền sự: Có 01 tiền sự, bị Công an huyện Trà Cú xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 155/QĐ-XPVPH, ngày 15/6/2020 về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền là 1.500.000 đồng. Bị cáo bị khởi tố vào ngày 08/01/2021 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt. - Người làm chứng: 1/ Lê Văn Đ, sinh ngày 01/01/2002. Nơi cư trú: ấp X X, xã NX, huyện TC, tỉnh Trà Vinh; vắng mặt. 2/ Lê Văn C, sinh năm 1971. Nơi cư trú: k5, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Trà Vinh; có mặt. 3/ Mai Văn M, sinh năm 1958. Nơi cư trú: khóm 3, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Trà Vinh; có mặt. 4/ Dương Văn P, sinh năm 1971. Nơi cư trú: ấp CH, xã NX, huyện TC, tỉnh Trà Vinh; vắng mặt. 5/ Nguyễn Thị L, sinh năm 1967. Nơi cư trú: k1, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cáo trạng số: 18/CT-VKS-HS ngày 25 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Dương Tấn V về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo bị truy tố như sau: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/12/2020, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại bãi đất trống thuộc k5, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Trà Vinh có nhiều đối tượng đang tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền (dưới hình thức lắc bầu cua). Công an huyện TC tiến hành kiểm tra phát hiện các đối tượng gồm: Lê Văn Đ, Lê Văn C, Mai Văn M, Dương Văn P, Nguyễn Thị L, bị cáo V và nhiều người khác (không rõ họ tên, địa chỉ) đang thực hiện hành vi đánh bạc. Sau đó, mời các đối tượng nêu trên về Cơ quan Công an làm việc, riêng một số đối tượng khác (không rõ họ tên và địa chỉ) đã bỏ chạy. Tại Cơ quan Công an bị cáo và các đối tượng đã thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình và khai nhận đã sử dụng số tiền vào mục đích đánh bạc, cụ thể như sau: - Đối với Lê Văn Đ, khi kiểm tra đang tham gia đánh bạc với vai trò làm nhà cái, lắc bầu cua cho các nhà con sanh sửa và đặt cược, mang theo số tiền 450.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Kết quả tại thời điểm kiểm tra thua số tiền 110.000 đồng, còn lại 340.000 đồng và tạm giữ số tiền 340.000 đồng của Đ. - Đối với Lê Văn C, khi kiểm tra phát hiện đang tham gia đánh bạc với vai trò nhà con sanh sửa và đặt cược, mang theo số tiền 250.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục nhiều ván. Kết quả tại thời điểm kiểm tra thua số tiền 10.000 đồng, còn 240.000 đồng và tạm giữ số tiền 240.000 đồng của ông C. - Đối với Mai Văn M, khi kiểm tra phát hiện đang tham gia đánh bạc với vai trò nhà con đặt cược và sanh sửa, mang theo số tiền 300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục nhiều ván. Kết quả tại thời điểm kiểm tra thắng số tiền 170.000 đồng và tạm giữ số tiền 470.000 đồng của ông M. - Đối với Dương Văn P, khi kiểm tra phát hiện đang tham gia đánh bạc với vai trò nhà con đặt cược và sanh sửa, mang theo số tiền 60.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục nhiều ván. Kết quả tại thời điểm kiểm tra không thắng, không thua còn số tiền 60.000 đồng và tạm giữ số tiền 60.000 đồng của ông P. - Đối với Nguyễn Thị L, khi kiểm tra phát hiện đang tham gia đánh bạc với vai trò nhà con đặt cược và sanh sửa, mang theo số tiền 150.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục nhiều ván. Kết quả tại thời điểm kiểm tra thua số tiền 80.000 đồng, còn 70.000 đồng và tạm giữ số tiền 70.000 đồng của bà L. - Đối với bị cáo Dương Tấn V, khi kiểm tra phát hiện đang tham gia đánh bạc với vai trò nhà con đặt cược và sanh sửa, mang theo số tiền 300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục nhiều ván. Kết quả tại thời điểm
kiểm tra thua số tiền 30.000 đồng, còn 270.000 đồng và tạm giữ số tiền là 270.000 đồng của bị cáo. Qua quá trình điều tra, xác minh xét thấy bị cáo Dương Tấn V có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép bị Công an huyện TC xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 155/QĐ-XPHC, ngày 15/6/2020 với số tiền là 1.500.000 đồng nhưng bị cáo chưa chấp hành và chưa hết thời hiệu được coi là bị xử phạt vi phạm hành chính. Đến ngày 29/12/2020, tiếp tục có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền với người khác. Do đó, hành vi của bị cáo Dương Tấn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Ngày 25/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định tạm giữ số tiền dùng để đánh bạc của bị cáo Dương Tấn V là 270.000 đồng và tạm giữ từ ông Lê Văn Đ dụng cụ mà các đối tượng dùng để đánh bạc gồm: 01 (một) cái hộp bằng nhựa, đường kính mặt hộp 17cm, chiều cao 10,5cm, không có nắp, đã qua sử dụng; 01 (một) cái dĩa bằng kim loại, đường kính mặt dĩa 21cm, đường kính đáy dĩa 18,2cm; 03 (ba) hột có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá (hột bầu cua); 01 (một) tấm giấy có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá, kích thước 42,2 x 64,2cm; 01 (một) tấm nilông có sọc màu xanh, trắng, đỏ, đã qua sử dụng, kích thước là 2,27 x 2,84m. Đến ngày 26/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Lệnh nhập kho vật chứng các dụng cụ dùng để đánh bạc nêu trên vào kho vật chứng thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện Trà Cú để bảo quản, quản lý theo quy định. Riêng số tiền tạm giữ của bị cáo Cơ quan điều tra đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú để quản lý theo biên lai số 0001015 ngày 04/3/2021. Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai thừa nhận việc đánh bạc thắng thua bằng tiền (hình thức lắc bầu cua) như cáo trạng đã truy tố. Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội “Đánh bạc”. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hành vi của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Về vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái hộp bằng nhựa, đường kính mặt hộp 17cm, chiều cao 10,5cm, không có nắp, đã qua sử dụng; 01 (một) cái dĩa bằng kim loại, đường kính mặt dĩa 21cm, đường kính đáy dĩa 18,2cm; 03 (ba) hột có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá (hột bầu cua); 01 (một) tấm giấy có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá, kích thước 42,2 x 64,2cm; 01 (một) tấm nilông có sọc màu xanh, trắng, đỏ, đã qua sử dụng, kích thước là 2,27 x 2,84m; đề nghị tịch thu số tiền 270.000 đồng của bị cáo V giao nộp để nộp ngân sách Nhà nước. Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Dương Tấn V không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản sự việc vi phạm quả tang, vật chứng thu giữ tại chiếu bạc và tiền trên người bị cáo. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình thì hành vi đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua ăn thua bằng tiền với nhau là hành vi đánh bạc trái phép bị nghiêm cấm. Tại điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) nay là Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) hướng dẫn: “Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc…” trong đó bao gồm cả tiền dự định sẽ dùng vào đánh bạc. Như vậy, có căn cứ xác định: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/12/2020, tại k5, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Trà Vinh, Dương Tấn V đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền (dưới hình thức lắc bầu cua) với tổng số tiền bị cáo V và các đối tượng khác sử dụng vào việc đánh bạc là 1.450.000 đồng là sự việc có thật. [2] Theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trong khi đó, V có 01 tiền sự bị Công an huyện Trà Cú xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 155/QĐ-XPVPH, ngày 15/6/2020 về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền là 1.500.000 đồng nên bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Dương Tấn V về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. [3] Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc nhưng bị cáo vẫn tiếp tục vi phạm; động cơ phạm tội là muốn sát phạt nhau để thu lợi bất chính. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi đánh bạc trái phép của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương, đánh bạc là một trong những tệ nạn xã hội làm cho nhiều người mất nhà cửa, phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tan vỡ hạnh phúc gia đình và đánh bạc còn được xem là một trong những nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Nhằm để
giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm có chiều hướng gia tăng như hiện nay. Hội đồng xét xử xét thấy nên áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. [4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Là lao động chính trong gia đình nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. [5] Về áp dụng hình phạt: Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích đúng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có xem xét đến số tiền cụ thể mà bị cáo đã bỏ ra đánh bạc. Xét quan điểm buộc tội của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với các tình tiết và các tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét thấy bị cáo phạm tội thuộc khoản 1 Điều 321 có mức phạt từ 20.000.000 đống đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, do đó áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo. [6] Về xử lý vật chứng: 01 (một) cái hộp bằng nhựa, đường kính mặt hộp 17cm, chiều cao 10,5cm, không có nắp, đã qua sử dụng; 01 (một) cái dĩa bằng kim loại, đường kính mặt dĩa 21cm, đường kính đáy dĩa 18,2cm; 03 (ba) hột có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá (hột bầu cua); 01 (một) tấm giấy có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá, kích thước 42,2 x 64,2cm; 01 (một) tấm nilông có sọc màu xanh, trắng, đỏ, đã qua sử dụng, kích thước là 2,27 x 2,84m là công cụ bị cáo sử dụng để đánh bạc. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 270.000 đồng của bị cáo là tiền dùng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước. [7] Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp. [8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí, giảm án phí và không thuộc trường hợp không phải nộp án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Dương Tấn V phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Dương Tấn V số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái hộp bằng nhựa, đường kính mặt hộp 17cm, chiều cao 10,5cm, không có nắp, đã qua sử dụng; 01 (một) cái dĩa bằng kim loại, đường kính mặt dĩa 21cm, đường kính đáy dĩa 18,2cm; 03 (ba) hột có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá (hột bầu cua); 01 (một) tấm giấy có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá, kích thước 42,2 x 64,2cm; 01 (một) tấm nilông có sọc màu xanh, trắng, đỏ, đã qua sử dụng, kích thước là 2,27 x 2,84m - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước tổng số tiền 270.000 (hai trăm bảy mươi nghìn) đồng theo biên lai số 0001015 ngày 04/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Cú. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Dương Tấn V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Trà Cú; - VKSND tỉnh Trà Vinh; - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh; - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú; - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Duyên |