- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tuấn C phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:16 /2021/HS-ST Ngày: 26-7-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY - TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đồng Thị Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lã Đức Hạnh và bà Đinh Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông A Thống - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Đinh Thế Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2021/TLST- HS, ngày 17 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 7 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2021/HSST-QĐ ngày 16/7/2021, đối với bị cáo:
Trần Tuấn C; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 12 năm 1975 tại tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đ và bà Trần Thị X (đều đã chết); Gia đình bị cáo có 09 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1955, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Bị cáo đã ly hôn và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2014 và nhỏ nhất sinh năm 2018, hiện các con đang sinh sống cùng với mẹ chị Phạm Thị Th tại Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum.
Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 20/8/2008, bị cáo bị TAND tỉnh Kon Tum xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (Đã được xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 02/4/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị T. Địa chỉ: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Trạm Quản lý bảo vệ rừng Tân L – Người đại diện: Ông Dương Hồng Q, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Hà Hải C, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn Đắk Jri, xã Đắk R, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Anh Đinh Hồng Kh, sinh năm 1993. Tổ 4, phường Duy T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Anh Phạm Văn D, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn 10, xã Đắk R, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh A Ng, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Anh Lê Quang G, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn Đắk Tin, xã Đắk Ng, huyện Đắk H, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, trong thời gian từ ngày 05/02/2021 đến ngày 21/02/2021. Trần Tuấn C đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ ngày 05/02/2021, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Tuấn C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo đi bộ đến vườn trồng chanh dây phía sau nhà của ông Nguyễn Văn Chi (SN: 1964, trú tại: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R) để tìm kiếm tài sản thì phát hiện thấy 01 (một) máy bơm, phun thuốc trừ sâu dùng trong sản xuất nông nghiệp (gồm các bộ phận: 01 bộ xịt – Metơ 2,2KW; 01 đầu xịt 1HP; 01 chân sắt xi; 01 Buly Cu Roa) đặt trên thanh gỗ gác ngang trên thùng nhựa đựng nước cách vị trí nhà ông Chi khoảng 20 mét. Thấy không có người, bị cáo dùng hai tay khiêng máy bơm đặt lên vai, rồi nhanh chóng đi ra khỏi vườn nhà ông Chi, sau đó bị cáo mang máy bơm đi dấu trong bụi rậm ra sau nhà mình. Đến trưa ngày 06/02/2021, bị cáo đến nhà ông Phạm Văn D (SN:1964, trú tại: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R) hỏi mượn xe mô tô mang biển số: 82K1 – 0461, nhãn hiệu Wave RSX, màu sơn: đen – đỏ và nói là để đi mua gạo về ăn thì được ông D đồng ý. Sau đó, bị cáo sử dụng xe mô tô trên chở máy bơm đi theo hướng từ huyện Kon Rẫy về TP. Kon Tum, khi đến tiệm sửa chữa máy nổ, máy cưa của anh Hà Văn C ( SN; 1996, trú tại: Thôn Đắk Jri (thôn 01 cũ), xã Đắk Tờ Re, huyện Kon Rẫy) thì C dừng xe lại, rồi đi vào trong tiệm hỏi anh C mua máy bơm không thì C bán; trong lúc nói chuyện, trao đổi giá cả anh C có hỏi về nguồn gốc máy bơm thì C nói “Máy bơm này là do tôi mua về để bơm thuốc sâu, nhưng vì đang cần tiền nên bán”; nghe vậy, anh C tin tưởng, không hỏi gì thêm và đồng ý mua máy bơm với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), số tiền trên bị cáo đã sử dụng mua thực phẩm và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi làm việc với Cơ quan điều tra, anh C biết được tài sản trên là do Trần Tuấn C trộm cắp mà có nên Hà Văn C đã giao nộp máy bơm, phun thuốc trừ sâu trên cho Cơ quan điều tra - Công an huyện Kon Rẫy để phục vụ quá trình điều tra.
Lần thứ hai: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/02/2021, Trần Tuấn C đi bộ một mình đến nhà anh Nguyễn Văn Th (sinh năm: 1979, trú tại: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R) để mượn xe mô tô, thì anh Thanh hỏi “Đi đâu”, bị cáo trả lời: “Anh mượn xe đi ra đây xíu” thì được ông Thanh đồng ý và giao xe mô tô không mang biển kiểm soát, loại xe độ chế cho C mượn ( tuy nhiên anh Thanh không biết C đi đâu, làm gì). Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, C điều khiển xe mô tô trên đi theo đường QL24B, khi chạy xe đến ngã ba đường mòn gần Trạm QLBV rừng Tân Lập (ở thôn 02 –Tân Lập) thì C dừng xe lại. Sau đó, C để xe mô tô cách Trạm QLBV rừng khoảng 59 mét, rồi đi bộ vào trong khu vực Trạm QLBV rừng quan sát, thấy Trạm QLBV rừng không có người trông coi, bảo vệ tài sản và chưa bật điện chiếu sáng, nên C đi lại vị trí để lóng gỗ xá xị (có kích thước dài 84cm, đường kính 30 x 36 cm) rồi dùng sức lực hai tay lật lóng gỗ lăn về phía để xe mô tô; khi lật cục gỗ ra đến xe, C dùng hai tay của mình nâng cục gỗ lên phần yên xe, và dùng dây thun có sẵn trên xe cột (buộc) lóng gỗ cố định. Cùng thời điểm này, anh A Ng (SN; 1979; là nhân viên Trạm QLBV rừng Tân Lập) điều khiển xe mô tô đi đến phát hiện thấy đối tượng C đang buộc lóng gỗ trên yên xe mô tô, nên A Ng giữ bị cáo C lại, đồng thời gọi điện thoại báo cho anh Dương Hồng Q (Trạm trưởng Trạm QLBV rừng Tân Lập) biết sự việc. Sau đó, anh Q Trạm QLBV rừng Tân Lập trình báo vụ việc cho Công an xã Tân Lập để điều tra, xử lý.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 05/HĐĐG ngày 18/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Kon Rẫy kết luận như sau: 01 Bộ xịt – Metơ 2,2KW; 1 đầu xịt 1HP; 1 chân sắt xi; 1 Buly Cu Roa (các bộ phận của máy bơm, phun thuốc trừ sâu dùng trong sản xuất nông nghiệp), có giá trị xác định là: 4.157.000 đồng (Bốn triệu một trăm năm mươi bảy nghìn đồng)
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 09/HĐĐG ngày 20/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Kon Rẫy kết luận như sau: 01(một) lóng gỗ tròn, chủng loại gỗ Vù hương (tên gọi khác là Xá xị, Re hương), tổng khối lượng là 0,072 m3, có giá trị xác định là: 324.000 đồng (Ba trăm hai mươi bốn nghìn đồng)
Vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT - Công an huyện Kon Rẫy tạm giữ: 01 (một) máy bơm, phun thuốc trừ sâu dùng trong sản xuất nông nghiệp (gồm các bộ phận: 01 bộ xịt – Metơ 2,2KW; 01 đầu xịt 1HP; 01 chân sắt xi; 01 Buly Cu Roa); 01 (một) lóng gỗ tròn dài 84cm, đường kính đầu một là 36cm (đầu lóng gỗ cắt xẻ một phần để phục vụ giám định), đường kính đầu hai là 30cm, chủng loại gỗ Vù hương (tên gọi khác là Xá xi, Re hương) và 01 (một) xe xe mô tô không có BKS, nhãn hiệu ANGEL SYM, màu sơn: Xanh, số máy: VMVX1Đ-000763, số khung: XB10BD4D-000763.
Hiện các vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Kon Rẫy đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 05 ngày 28/5/2021, bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn Chi, Nguyễn Văn Th (đều trú tại Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R) và người quản lý hợp pháp tài sản ông Dương Hồng Quân (Trạm trưởng Trạm quản lý bảo vệ rừng Tân lập).
Về dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố anh Hà Hải C yêu cầu bị cáo Trần Tuấn C phải hoàn trả lại số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) cho anh C, vì đây là số tiền anh C bỏ ra để mua máy bơm, nhưng sau đó biết tài sản trên là do trộm cắp mà có nên anh C đã giao nộp máy bơm cho Cơ quan canh sát điều tra để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
Đối với ông Nguyễn Văn Chi, Nguyễn Thị Tâm và Trạm quản lý bảo vệ rừng Tân lập đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Theo cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 17/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, truy tố bị cáo Trần Tuấn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố 13/CT-VKS ngày 17/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo: Trần Tuấn C mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không tranh luận gì đối với Kiểm sát viên viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra. Riêng anh Hà Hải C thay đổi lời khai về nội dung bồi thường không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho Anh C số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng).
- Những người tham gia tố tụng khác: Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 05/02/2021 đến ngày 21/02/2021, bị cáo Trần Tuấn C đã 02 lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể gồm:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ ngày 05/02/2021, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) máy bơm, phun thuốc trừ sâu dùng trong sản xuất nông nghiệp (gồm các bộ phận: 01 bộ xịt – Metơ 2,2KW; 01 đầu xịt 1HP; 01 chân sắt xi; 01 Buly Cu Roa), sau đó đem bán cho anh Hà Hải C với giá 1.000.000 đồng.
Lần thứ hai: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/02/2021 bị cáo đi xe đến Trạm quan lý bảo vệ rừng Tân lập, sau đó thực hiện hành vi lấy trộm 01 (một) lóng gỗ tròn, chủng loại gỗ Vù hương (tên gọi khác là Xá xị, Re hương), tổng khối lượng là 0,072 m3.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 05/HĐĐG ngày 18/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Kon Rẫy kết luận như sau: 01 Bộ xịt – Metơ 2,2KW; 1 đầu xịt 1HP; 1 chân sắt xi; 1 Buly Cu Roa (các bộ phận của máy bơm, phun tuốc trừ sâu dùng trong sản xuất nông nghiệp), có giá trị xác định là: 4.157.000 đồng (Bốn triệu một trăm năm mươi bảy nghìn đồng)
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 09/HĐĐG ngày 20/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Kon Rẫy kết luận như sau: 01(một) lóng gỗ tròn, chủng loại gỗ Vù hương (tên gọi khác là Xá xị, Re hương), tổng khối lượng là 0,072 m3, có giá trị xác định là: 324.000 đồng (Ba trăm hai mươi bốn nghìn đồng)
Như vậy, bị cáo trong khoảng thời gian từ ngày 05/02/2021 đến ngày 21/02/2021 đã có hành vi lợi dụng sơ hở của các bị hại, bị cáo đã lén lút vào khu vực vườn nhà ông Chi lấy trộm tài sản là 01 (một) máy bơm phun thuốc trừ sâu dùng trong sản xuất nông nghiệp và 01 lóng gỗ tròn, chủng loại gỗ Vù hương tại Ban quản lý rừng Tân Lập. Tổng thiệt hại là 4.481.000đ (Bốn triệu, bốn trăm tám mươi mốt ngàn đồng). Do đó, Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 17/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Trần Tuấn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tiền sử dụng không phải bằng sức lao động của mình nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả xảy ra và pháp luật quy định. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục phạm tội, thể hiện bản chất khó cải tạo. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo gây ra để giáo dục bị cáo và răng đe phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
[4.1]. Về nhân thân: Ngày 20/8/2008, bị cáo bị TAND tỉnh Kon Tum xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (Đã được xóa án tích).
[4.2]. Về tình tiết tăng nặng: Không.
[4.3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; trong quá trình điều tra khi bị hại vợ chồng ông Nguyễn Văn Chi chưa trình báo về việc mất tài sản cũng như cơ quan điều tra chưa phát hiện nhưng bị cáo đã tự khai ra hành vi trộm cắp máy bơm thuốc trừ sâu của ông Chi, bà Tâm - Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng khi lượng hình.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Đối với anh Hà Hải C: Là người mua 01 bộ xịt – metơ 2,2KW; 01 đầu xịt 1HP; 01 chân sắt xi; 01 Buly CuRoa của bị cáo Trần Tuấn C với giá: 1.000.000 đồng. Tuy nhiên anh Hà Hải C khai không biết đó là tài sản do C trộm cắp mà có, vì thế mới tin tưởng và mua máy bơm trên, hơn nữa giữa anh C và C không có bàn bạc, hứa hẹn gì từ trước, anh C đã giao nộp máy bơm trên để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử. Tại phiên tòa, anh C vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh C. Xét thấy việc vắng mặt và không yêu cầu bồi thường của anh C là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này anh C muốn bị cáo bồi thường thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự riêng.
Quá trình điều tra và theo đơn xét xử vắng mặt các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Phạm Văn D và ông Nguyễn Văn Th, ông Đinh Hồng Kh là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về vật chứng, nhưng đã nhận lại và có đơn xin xét xử vắng mặt, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Kon Rẫy đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp, người quản lý hợp pháp và họ không có ý kiến gì, đồng thời những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không có ý kiến gì nên HĐXX không đề cập.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Tuấn C 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/4/2021.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Căn cứ Điều 21; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Trần Tuấn C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/7/2021) bị cáo có quyền kháng cáo bản án này để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng đối với các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh ; - TAND tỉnh KonTum; - VKSND huyện Kon Rẫy; - CQCSĐT- CA huyện Kon Rẫy; - Chi cụcTHADS huyện Kon Rẫy. - Bị cáo; bị hại; - UBND nơi đăng ký HKTT của bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Sở Tư pháp tỉnh; - Lưu hồ sơ VA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Đồng Thị Bình THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |