vanban.org

Bản án 16/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 30/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lục Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt: Bị cáo Lục Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 14-01-2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lục Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ QUẢNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HS-ST
Ngày 30-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đại T

Bà Hoàng Thị Viễn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Minh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30-6-2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2021/TLST-HS ngày 19-5-2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HS ngày 17-6-2021 đối với bị cáo:

Lục Văn H, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1982 tại xã TC, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm CP, xã TC, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn K (đã chết) và bà Hoàng Thị M (đã chết); có vợ là Phạm Thị A, sinh năm 1981; con: bị cáo có 01 con sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Xấu; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14-01-2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng bào chữa cho Lục Văn H, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Đặng Văn C, sinh năm 1972; nơi cư trú: Xóm CT, xã QH, huyện TK, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt;

2. Anh Trịnh Văn S, sinh năm 1983; nơi cư trú: Xóm LR, xã NT, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt;

3. Anh Dương Văn V, sinh năm 1982; nơi cư trú: Xóm CM, xã CV, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt.

4. Ông Lý Văn K, sinh năm 1977; nơi cư trú: Xóm CP, xã TC, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 14-01-2021 Tổ công tác của đội Điều tra tổng hợp Công an huyện Hà Quảng phối hợp cùng Công an xã Tổng Cọt, Đồn Biên phòng Tổng Cọt làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực xã TC, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng. Đến khu vực thuộc Xóm CP, xã TC, huyện HQ thì phát hiện một người đàn ông điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 11X1 - 03727 có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã T hành dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra biết được người điều khiển xe mô tô tên Đặng Văn C, sinh năm 1972 trú tại Xóm CT, xã QH, huyện TK, tỉnh Cao Bằng. Tổ công tác đã T hành kiểm tra người phát hiện trong ví da màu nâu của C có 01 (một) gói nhỏ màu đen, bên trong có chất bột màu trắng. Đặng Văn C khai nhận chất bột màu trắng là Heroine vừa mua với Lục Văn H trú tại Xóm CP, xã TC, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng đã T hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lục Văn H. Quá trình khám xét H tự nguyện chỉ vị trí cất giấu Heroine dưới gối tại giường ngủ trên tầng hai trong nhà riêng của H là 01 (một) hộp chứa bằng kim loại, mặt hộp bên ngoài có in ấn chữ Thăng Long; Tại giường ngủ tầng hai của H còn có 01 (một) dao cạo bằng kim loại, trên mặt dao cạo có chữ CROMA PREMIUM và 07 (bảy) mảnh giấy có màu sắc, kích thước khác nhau được cắt từ lịch vạn niên. T hành mở hộp kim loại phát hiện bên trong hộp có tổng cộng 34 (ba mươi tư) gói giấy có màu sắc khác nhau, trong đó có 20 (hai mươi) gói giấy có kích thước lớn hơn và 14 (mười bốn) gói giấy có kích thước nhỏ hơn. T hành mở các gói giấy trên, bên trong đều có chứa chất bột màu trắng (theo khai nhận của Lục Văn H số chất bột màu trắng là Heroine). Lục Văn H còn bị tạm giữ số tiền Việt Nam 8.790.000 đồng (tám triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng chẵn) và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO nắp sau màu xanh đen. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lục Văn H và niêm phong toàn bộ những đồ vật trên vào phong bì theo đúng quy định.

Sau khi bị bắt Lục Văn H đã tự khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 14-01-2021 Lục Văn H từ nhà đi thị trấn TL, huyện TK, tỉnh Cao Bằng để uống thuốc METHADONE. Sau khi uống thuốc xong H ra ngã ba thị trấn TL, huyện TK (khu vực gần cây xăng) để gặp một người tên T khoảng 19 đến 20 tuổi (không biết họ tên và địa chỉ), T đồng ý và H đưa cho T số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng chẵn). T cầm tiền và lái xe đi đâu đó khoảng 15 phút sau thì thấy quay lại rồi đưa cho H 01 (một) gói giấy báo, H cầm lấy gói ma túy rồi đi về. Sau khi về đến nhà, H mở gói ma túy ra và dùng dao lam để chia nhỏ số ma túy thành từng gói để bản thân sử dụng và bán cho những người nghiện khác. Ngoài lần này, cách ngày 14-01-2021 khoảng 01 (một) tháng trở về trước (không nhớ thời gian cụ thể) H còn nhờ T mua ma túy thêm 01 (một) lần với số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng chẵn). Lục Văn H được bán ma túy cho các đối tượng sau:

- Bán cho Đặng Văn C trú tại Xóm CT, xã QH, huyện TK 02 (hai) lần, mỗi lần đều bán 01 tép/100.000 đồng. Lần 1 là ngày 09-01-2021 và lần 2 ngày 14-01-2021.

- Bán cho Trịnh Văn S trú tại Xóm LR, xã NT, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng 03 (ba) lần mỗi lần đều bán 01 tép/100.000 đồng. Hai lần đầu không nhớ thời gian, lần 3 là ngày 07-01-2021.

- Bán cho Dương Văn V trú tại Xóm CM, xã CV, huyện HQ 02 (hai) lần mỗi lần đều bán 01 tép/100.000 đồng. Lần đầu không nhớ thời gian, lần 2 là ngày 07-01-2021.

- Bán cho Lý Văn K trú tại Xóm CP, xã TC, huyện HQ 02 (hai) lần, mỗi lần đều bán 01 tép/100.000 đồng. Lần đầu không nhớ thời gian, lần 2 là ngày 14-01-2021.

Ngày 14-01-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng tiến hành cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Đặng Văn C có khối lượng là 0,08g (không phẩy không tám gam); Số chất bột màu trắng thu giữ của Lục Văn H có khối lượng là 4,08g (bốn phẩy không tám gam).

Tại Bản kết luận giám định số 56/GĐMT ngày 28-01-2021 và Bản kết luận giám định số 57/GĐMT ngày 29-01-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng đều kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Tại Bản Cáo trạng số: 13/CT-VKSHQ ngày 18-5-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố bị can Lục Văn H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, đã xác định được những đối tượng nghiện ma túy (Đặng Văn C, Dương Văn V, Trịnh Văn S, Lý Văn K) được mua Heroine với bị cáo về để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Về đối tượng tên T bán ma túy cho bị cáo qua xác minh tại thị trấn TL, huyện TK, tỉnh Cao Bằng không có ai tên T có độ tuổi từ 19 đến 20 tuổi nghi có liên quan đến ma túy nên không có cơ sở để xử lý trong cùng vụ án.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lục Văn H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lục Văn H từ 07 năm đến 08 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư được niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ án Lục Văn H - Mua bán trái phép chất ma túy - Bắt ngày 14-01-2021”. Mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) dấu giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng; Trả lại cho bị cáo Lục Văn H 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, có số IMEI 1: 865966046552531, IMEI 2: 865966046552523 điện thoại cũ đã qua sử dụng; Truy thu đối với bị cáo Lục Văn H số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng chẵn).

- Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo, nhất trí với kết luận của Kiểm sát viên về truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các yếu tố sau đây: Về các tình tiết giảm nhẹ thì sau khi bị khởi tố, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Khi hành vi bán ma túy bị phát hiện, bị cáo tích cực phối hợp với Cơ quan điều tra để làm rõ tình tiết của vụ án, tự nguyện khai ra các hành vi bán ma túy trước đó (bán cho Trịnh Văn S, Dương Văn V và Lý Văn K). Ngoài ra, bị cáo có mẹ đẻ Hoàng Thị M được Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời khai của những người làm chứng (Đặng Văn C, Trịnh Văn S, Dương Văn V, Lý Văn K) đều công nhận được mua Heroine với bị cáo H theo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng của vụ án được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đủ căn cứ và cơ sở kết luận, khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 14-01-2021 Lục Văn H từ nhà đi thị trấn TL, huyện TK, tỉnh Cao Bằng để uống thuốc METHADONE. Sau khi uống thuốc xong H ra ngã ba thị trấn TL, huyện TK (khu vực gần cây xăng) để gặp một người tên T khoảng 19 đến 20 tuổi (không biết họ tên và địa chỉ) để nhờ đi mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, về tới nhà H chia thành những tép nhỏ để sử dụng và bán. Trưa cùng ngày, Đặng Văn C đến nhà H để mua ma túy. Sau khi mua được ma túy đang trên đường đi về Đặng Văn C bị các Cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành kiểm tra người. Qua kiểm tra, phát hiện trong ví màu nâu của C có 01 (một) gói nhỏ màu đen, C khai nhận chất bột màu trắng thu được là Heroine vừa mua với Lục Văn H. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng đã T hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lục Văn H, tang vật thu được có khối lượng là 4,08g (bốn phẩy không tám gam) với kết quả giám định là ma túy loại “Heroine” (Bản kết luận giám định số 56/GĐMT ngày 28-01-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng). Ngoài ra, trước ngày 14-01-2021 khoảng một tháng bị cáo H sang thị trấn TL, huyện TK, tỉnh Cao Bằng nhờ T mua ma túy về để sử dụng và bán lẻ. Trên cơ sở xác nhận của những người làm chứng, sự thừa nhận của bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ khác đủ chứng cứ chứng minh rằng bị cáo H đã bán Heroine cho các đối tượng nghiện (người làm chứng) trong vụ án 09 lần (thu được 900.000 đồng). Đây là những chứng cứ xác định bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Chứng cứ mà Viện kiểm sát đưa ra là đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết nhất định về pháp luật, nhận thức rõ Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, tiêu thụ, vận chuyển, mua bán chất ma túy. Nhưng trước cám dỗ của đồng tiền, không làm chủ được bản thân nên sa đà vào tệ nạn ma túy, bên cạnh đó vì mục đích lợi nhuận nên bị cáo đã cố ý vi phạm pháp luật. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng đã đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma túy đang ngày càng diễn biến phức tạp, làm tăng tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngay sau khi bị bắt, bị cáo còn tự khai ra những hành vi phạm tội của mình trước đó (được bán ma túy nhiều lần cho Trịnh Văn S, Dương Văn V và Lý Văn K) và những hành vi này đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập, do đó thuộc trường hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự thú. Trước Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo. Ngoài ra, bị cáo có mẹ đẻ là bà Hoàng Thị M được Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, do đó cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt.

Về hình phạt chính:

Với tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và quy định của pháp luật hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ sức răn đe, đồng thời làm gương cho người khác, phục vụ công tác phòng, đấu tranh chống tội phạm ma túy ở địa phương. Xét đề nghị áp dụng pháp luật và ra mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần xử lý như sau:

- Chất ma túy thu được của bị cáo (được niêm phong theo quy định), kết quả giám định là Heroine, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy; 01 dao cạo có chữ CROMA PREMIUM và 07 (bảy) mảnh giấy có màu sắc và kích thước khác nhau được cắt từ lịch vạn niên là vật chứng không có giá trị cần tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, có số IMEI 1: 865966046552531, IMEI 2: 865966046552523 thuộc sở H của bị cáo Lục Văn H, bị cáo khai nhận chiếc điện thoại này không dùng vào việc liên lạc mua bán trái phép chất ma túy. Xét thấy, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

- Số tiền bị cáo bán ma túy được 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng chẵn) mặc dù đã chi tiêu hết, nhưng đây là số tiền do phạm tội mà có, cần truy thu sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lục Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Lục Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 14-01-2021.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư được niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng vụ án Lục Văn H - Mua bán trái phép chất ma túy - Bắt ngày 14-01-2021”. Mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) dấu giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng.

- Trả lại cho bị cáo Lục Văn H 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, có số IMEI 1: 865966046552531, IMEI 2: 865966046552523 điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Xác nhận: Toàn bộ các vật chứng trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hà Quảng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18-5-2021.

- Truy thu đối với bị cáo Lục Văn H số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng chẵn) số tiền thu lợi bất chính nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Ngày 28-4-2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng ra Quyết định xử lý vật chứng số 10 để trả lại số tiền Việt Nam 8.790.000 đồng (tám triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng chẵn) cho chị Phạm Thị A (vợ bị cáo H), vì đây là tiền của chị Phạm Thị Anh.

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo Lục Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng chẵn) nộp vào Ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ