vanban.org

Bản án 16/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 27/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy đối với tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) có khối lượng 0,6984 gam để trong phong bì niêm phong số 395/M ghi ngày 21/6/2021 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌN… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (hai) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HS-ST
Ngày 27/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trần Đông;

Ông Dương Văn Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Liêng Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Võ Tấn Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh năm 1994 tại tỉnh Trà Vinh; Tên gọi khác: Tề Thiên; Nơi cư trú: ấp P, xã Q, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn 3/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1970; Tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xử phạt 02 năm tù tội “Cố ý gây thương tích” bị cáo đã chấp hành án xong và đã xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ vào ngày 18/6/2021, đến ngày 21/6/2021 chuyển tạm giam cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

- Ngư i c quyền i ngh a v iên quan đ n v án:

Anh Đặng Văn D, sinh năm 1990. Nơi cư trú: ấp A, xã B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (Vắng, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Chị Đặng Thị Kiều T, sinh năm 1993. Nơi cư trú: ấp A, xã B, thị xã, tỉnh Trà Vinh (Vắng, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Ngư i àm ch ng:

Bà Võ Thị S, sinh năm 1965. Nơi cư trú: ấp M, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt).

Ông Lâm Văn H1, sinh năm 1965. Nơi cư trú: ấp M, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt).

Ông Nguyễn Trọng C, sinh năm 1964. Nơi cư trú: ấp M, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ ngày 18/6/2021, Bị cáo Nguyễn Văn B điều khiển xe mô tô biển số 84F1-198.74 của anh Đặng Văn D, sinh năm 1990, địa chỉ ấp A, xã B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh đứng tên chủ sở hữu, mang theo gói ma túy đến khu vực ấp M, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh thì bị Công an huyện Duyên Hải kiểm tra phát hiện bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên tiến hành bắt giữ bị cáo cùng tang vật. Cơ quan Công an tiến hành test nhanh kiểm tra chất ma túy thì bị cáo dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Công an, bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận vào chiều ngày 18/6/2021 có người bạn tên Nguyễn Hữu P, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Khóm 2, phường 2, thị xã D, tỉnh Trà Vinh điện thoại rủ bị cáo đến nhà P đang thuê ở ấp M, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh để uống rượu thì bị cáo đồng ý. Trước khi đi, bị cáo B điều khiển xe mô tô biển số 84F1-198.74 đi lấy một gói ma túy do bị cáo cất giấu ở bụi cây thuộc khu vực xã C, thị xã D, gói ma túy này do bị cáo mua trước đó khoảng 10 ngày của một người đàn ông tên B1 tại thành phố Trà Vinh ( bị cáo không biết họ, tên lót, địa chỉ cụ thể của người bán) với số tiền 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng nhằm mục đích để sử dụng. Sau khi lấy gói ma túy, bị cáo để gói ma túy trong miếng khăn giấy rồi bỏ vào túi nylon đựng bánh treo trên xe mô tô biển số 84F1-198.74 nhằm mục đích để sử dụng cùng bạn. Trên đường bị cáo điều khiển xe đến khu vực ấp M, xã N mang theo gói ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 395/KLGĐ ngày 21/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là Ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,7097 gam.

Ngày 21/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Nguyễn Văn B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để điều tra làm rõ.

Trong quá trình điều tra đã chứng minh được bị cáo Nguyễn Văn B tàng trữ trái phép chất ma tuý có khối lượng 0,7097 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải quản lý:

- Tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) có khối lượng 0,6984 gam để trong phong bì niêm phong số 395/M ghi ngày 21/6/2021 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH (bên trong phong bì niêm phong có vỏ bao gói).

- Một điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng, đã qua sử dụng cùng sim số 0342.621.500.

- Riêng chiếc xe mô tô biển số 84F1 - 198.74 là tài sản của anh Đặng Văn D, việc bị cáo B sử dụng làm phương tiện tàng trữ trái phép chất ma túy anh D không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải đã ra quyết định trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh D.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 03/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã truy tố.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đặng Văn D và chị Đặng Thị Kiều T xin xét xử vắng mặt nên không có lời trình bày và không đưa ra yêu cầu gì đối với bị cáo.

Đối với người bán ma túy, bị cáo chỉ biết tên Búa còn họ tên, địa chỉ cụ thể không biết. Quá trình mua ma túy để sử dụng, bị cáo sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng cùng sim số 0342.621.500 liên hệ mua ma túy. Khi nhận ma túy, bị cáo đã xóa số điện thoại của người bán ma túy, đồng thời bị cáo không nhớ số điện thoại của người bán ma túy nên trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải chưa xác minh làm rõ được, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Phát biểu quan điểm luận tội của Vị kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu hủy vật chứng gồm: Tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) có khối lượng 0,6984 gam để trong phong bì niêm phong số 395/M ghi ngày 21/6/2021 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH (bên trong phong bì niêm phong có vỏ bao gói). Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước đối với: Một điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng, đã qua sử dụng cùng sim số 0342.621.500. Riêng chiếc xe mô tô biển số 84F1 - 198.74 là tài sản của anh Đặng Văn D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải đã ra quyết định trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh D nên đề nghị không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo Nguyễn Văn B nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Qua quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở khẳng định: Vào lúc 17 giờ ngày 18/6/2021, bị cáo Nguyễn Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,7097 gam, nhằm mục đích để sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội với tính chất nghiêm trọng. Đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật bảo vệ. Đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bởi, hiện nay các tệ nạn về ma túy đang là vấn đề gây nhức nhói cho xã hội. Bị cáo nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả hành vi của mình nhưng vẫn cố ý phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng nên đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Việc Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên cho bị cáo là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ, hành vi nguy hiểm của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khung hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Trong vụ án này, anh Đặng Văn D là chủ sở hữu xe mô tô biển số 84F1 - 198.74. Anh D giao xe máy cho em ruột là chị Đặng Thị Kiều T dùng làm phương tiện để đi làm. Do bị cáo Nguyễn Văn B là bạn trai của chị T nên chị T đã giao xe cho bị cáo điều khiển để đưa, rước chị T đi làm. Vào ngày 18/6/2021 việc bị cáo tự ý lấy xe mô tô này để làm phương tiện tàng trữ trái phép chất ma túy anh D và chị T không hay biết nên Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Duyên Hải không đưa ra hình thức xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật. Riêng đối với người tên “B1” là người bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải chưa xác minh được đối tượng, khi nào điều tra xác minh rõ sẽ xử lý sau.

. Về xử lý vật chứng:

+ Đối với tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) có khối lượng 0,6984 gam để trong phong bì niêm phong số 395/M ghi ngày 21/6/2021 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH (bên trong phong bì niêm phong có vỏ bao gói) là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.

+ Đối với 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng, đã qua sử dụng cùng sim số 0342.621.500 là tài sản của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

+ Đối với chiếc xe mô tô biển số 84F1 - 198.74 là tài sản của anh Đặng Văn D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải đã ra quyết định trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh D là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp.

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố đúng quy định của pháp luật.

. Xét thấy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải về điều luật áp dụng, tội danh, xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các ẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 18/6/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy đối với tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) có khối lượng 0,6984 gam để trong phong bì niêm phong số 395/M ghi ngày 21/6/2021 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH (bên trong phong bì niêm phong có vỏ bao gói).

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước đối với: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng, đã qua sử dụng cùng sim số 0342.621.500

Đối với chiếc xe mô tô biển số 84F1 - 198.74 là tài sản của anh Đặng Văn D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải đã ra quyết định trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh D nên không xem xét.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trư ng h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự ngư i phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 7a 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ