vanban.org

Bản án 16/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 31/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Đức M phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HS-ST
Ngày 31-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thanh Tú.

2. Ông Phạm Văn Ngọ.

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Âu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 và 31 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2021/HSST, ngày 04 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Hứa Đức M - Sinh ngày: 14/11/1994;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm 10, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con ông: Hứa Văn T1 (đã chết);Con bà: Lôi Thị Đ1; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị P và có 03 con, con lớn nhất 04 tuổi, con nhỏ nhất sinh năm 2020;

Tiền án, tiền sự: Không.

Từ ngày 20/8/2020 đến ngày 20/02/2021, bị cáo đi cai nghiện, chữa trị tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, sau đó tại ngoại tại địa phương cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: , Triệu Nguyên T3, sinh năm 1986. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn H1, thị trấn T5, huyện , tỉnh Bắc Kạn.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Trần Duy T7, sinh năm 1988. Có mặt ngày 29/3/2021, vắng mặt ngày 31/3/2021.

Địa chỉ: Xóm 11, xã H8, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Nguyễn Thị P, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Xóm 10, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng: Tạ Quang H9, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Xóm 11, xã H8, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt ngày 29/3/2021, vắng mặt ngày 31/3/2021.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 14/8/2020, Hứa Đức M đến nhà Triệu Nguyên T3 chơi và ăn cơm. Sau khi ăn xong, M và T3 cùng nhau đi chơi bằng xe mô tô BKS: 97B1-412.06, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc của T3, sau đó đi về nhà M ngủ. Đến khoảng 08 giờ sáng ngày 15/8/2020, hai người quay lại nhà T3. Tại nhà T3, M hỏi mượn xe mô tô của T3 để đi đến nhà anh Vũ Anh T2, có địa chỉ tại tổ 5, phường V, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên để lấy tiền công làm thuê trước đó. T3 đồng ý cho M mượn, trực tiếp giao xe mô tô cùng các giấy tờ liên quan cho M, gồm: 01 Giấy đăng ký xe mô tô, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe mô tô và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Triệu Nguyên T3, lúc đó có ông Triệu Văn T6 (là bố của T3) chứng kiến. Sau khi mượn được xe, M điều khiển xe đi đến nhà anh T2, nhưng không gặp được T2 và không lấy được tiền. Sau đó M điều khiển xe đi về nhà tại xóm 10, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Trên đường đi, M nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của T3, M đã mang xe đến cửa hàng cầm đồ của anh Trần Duy T7 tại Xóm 11, xã H8, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, M gặp anh Tạ Quang H9 (là người làm công tại cửa hàng), M đưa các giấy tờ liên quan đến xe mô tô và chứng minh thư nhân dân của anh T3 ra cho anh H9 xem và nói với anh H9 là xe của mình, muốn cầm cố, anh H9 kiểm tra, đối chiếu giấy tờ xe thấy phù hợp và cho rằng xe mô tô đó là của M. Sau khi thỏa thuận, hai bên đồng ý cầm cố với số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). H9 yêu cầu M điền các thông tin liên quan đến xe mô tô vào 01 hợp đồng cầm cố tài sản, M đã ghi tên, địa chỉ, thông tin của T3 vào đó nhằm mục đích để anh H9 tin tưởng là xe của mình và nhận cầm cố. Sau khi lấy được tiền, M đã sử dụng số tiền 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) để ghi số lô, số đề với một người phụ nữ tại 01 quán ven đường (M không nhớ địa chỉ cụ thể), sau đó M đi về nhà, số tiền còn lại M đã tiêu xài cá nhân hết. Đến tối ngày 15/8/2020 không thấy M trả xe mô tô, anh T3 đã gọi điện hỏi M thì M trả lời đang bận, chưa mang xe trả cho T3 được, nH9 vài ngày sau M vẫn không trả xe cho anh T3, anh T3 không liên lạc được với M. Đến ngày 18/8/2020 anh T3 đã làm đơn trình báo Công an huyện Chợ Mới giải quyết sự việc.

Quá trình điều tra, ngày 26/8/2020, Tạ Quang H9 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới xe mô tô BKS: 97B1 - 412.06; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 97B1-412.06 số 068846; 01 giấy chứng minh thư nhân dân số 095102579 mang tên Triệu Nguyên T3.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 104/KL-HĐĐG ngày 16/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Chợ Mới xác định: Giá trị tài sản bị thiệt hại (xe mô tô BKS: 97B1-412.06) tại thời điểm bị chiếm đoạt là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

Quá trình điều tra, Hứa Đức M đã tác động vợ mình (là chị Nguyễn Thị P) trả lại số tiền mà M nhận được từ việc cầm cố tài sản là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho cửa hàng Cầm đồ Trần Duy T7.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Hứa Đức M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình về diễn biến, thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản mà M đã mượn và chiếm đoạt của Triệu Nguyên T3. M thừa nhận sau khi mượn được xe mô tô của T3, do muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên đã nảy sinh ý định cầm cố xe mô tô. Sau khi cầm cố xe mô tô, M sử dụng một phần tiền có được từ việc cầm cố xe để ghi số lô, số đề, phần còn lại cũng đã sử dụng hết vào việc sinh hoạt cá nhân, dẫn đến không có khả năng trả lại xe mô tô cho anh T3. M còn khai nhận, đối với 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm xe mô tô BKS: 97B1-412.06, M đã để thất lạc nên không giao nộp được cho Cơ quan điều tra.

Về vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô BKS: 97B1-412.06 kèm theo chìa khóa xe; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 97B1-412.06 số 068846 mang tên Triệu Nguyên T3; 01 giấy chứng minh thư nhân dân số 095102579 mang tên Triệu Nguyên T3. Toàn bộ vật chứng trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 01 ngày 23/01/2021 trả lại cho chủ sở hữu là anh Triệu Nguyên T3.

Đối với 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm xe mô tô BKS: 97B1-412.06, quá trình điều tra không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Triệu Nguyên T3, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Duy T7, Nguyễn Thị Phúc không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.

* Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 06/CT - VKSCM ngày 02/3/2021 truy tố bị cáo Hứa Đức M về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:

- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Hứa Đức M phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Hứa Đức M từ 06 đến 09 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Triệu Nguyên T3 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Duy T7, Nguyễn Thị Phúc không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã thẩm tra, xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 08 giờ ngày 15/8/2020, tại nhà của Triệu Nguyên T3 thuộc thôn H1, thị trấn T5, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, Hứa Đức M đã mượn xe mô tô BKS: 97B1-412.06 của T3, sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và sử dụng chiếc xe trên vào mục đích bất hợp pháp, bằng cách mang xe đi cầm cố cho người khác lấy số tiền 5.000.000đồng (năm triệu đồng) để ghi số lô, số đề và tiêu sài cá nhân dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho T3. Qua định giá, chiếc xe tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng … thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a)….

b)…Mượn tài sản của người khác…và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản…;”.

Cáo trạng số 06/CT - VKSCM ngày 02/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: "Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm T7"; “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo là thanh niên, có sức khỏe nH9 lười lao động, nên đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo lại sử dụng ma túy, như vậy bị cáo đã không chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước. Do đó, hành vi của bị cáo phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai đã dùng số tiền 4.600.000đ có được từ việc cầm cố xe mô tô của anh T3 vào việc đánh bạc. Tuy nhiên ngoài lời khai của M ra thì không có chứng cứ gì khác chứng minh hành vi này của M. Do đó không đủ căn cứ để xem xét, xử lý hành vi đánh bạc của M là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về vật chứng trong vụ án: Vật chứng của vụ án gồm01 xe mô tô BKS: 97B1-412.06 kèm theo chìa khóa xe; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 97B1-412.06 số 068846; 01 giấy chứng minh thư nhân dân số 095102579 mang tên Triệu Nguyên T3. Toàn bộ vật chứng trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 01 ngày 23/01/2021 trả lại cho chủ sở hữu là anh Triệu Nguyên T3. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật; Đối với 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm xe mô tô BKS: 97B1-412.06, quá trình điều tra không thu giữ được, bị hại Triệu Nguyên T3 cũng không yêu cầu truy tìm, lấy lại, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Triệu Nguyên T3 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Duy T7, Nguyễn Thị P không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có khả năng để thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trong vụ án này còn có Trần Duy T7, Tạ Văn H9 là chủ hiệu cầm đồ và người trực tiếp giao dịch cầm cố tài sản với Hứa Đức M. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định những người này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như không biết về nguồn gốc chiếc xe mô tô BKS: 97B1-412.06 là tài sản do phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ mà M khai là bán số lô, số đề cho M, M không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Quá trình điều tra, không xác định được danh tính nên không xem xét xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QuyÕt ®Þnh:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 175; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Hứa Đức M phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Hứa Đức M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo T7 hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Duy T7, Nguyễn Thị Phúc, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ