- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!CẨM!GIÀNG TỈNH!HẢI!DƯƠNG! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số: 16/2021/HS-ST Ngày: 19 - 3 - 2021 ! |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CẨM!GIÀNG,!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!
!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Đoàn Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Quang Miên và ông Hoàng Hồng Hà;
- Thư ký phiên toà: ông Phạm Hoàng Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: ông Nguyễn Ánh Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2021/TLST-HS ngày 05- 02 -2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2021/QĐXXST-HS ngày 03- 3 -2021 đối với bị cáo:
Lò!Văn!V, sinh năm 1986 tại xã HT, huyện ML, tỉnh SL; cư trú tại: PL, xã HT, huyện Ma, tỉnh SL; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 0/12; dân tộc Thái Len; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; bố đẻ Lò Văn T1; con bà Cà Thị S; vợ là Lường Thị H, sinh năm 1986 và có 02 con ( con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: không; bị cáo thuộc hộ nghèo.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25-12-2020 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo V:!bà Nguyễn Thị Liên – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hải Dương (có mặt).
Người chứng kiến:!!
-. Anh Nguyễn Bá D, sinh năm 1985(vắng mặt);
-. Anh Đoàn Mạnh T, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Đều trú tại: khu TN, thị trấn LC, huyện CG, tỉnh HD;
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn V là người sử dụng ma túy từ năm 2016. Vào khoảng 21 giờ 15' ngày 21-12-2020, V đi xe ôm từ thị trấn Lai Cách đến khu vực xóm bờ sông, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang gặp và mua của một người không quen biết 02 gói Heroin với giá 200.000đ và được người này cho 02 bộ xilanh cùng 02 ống nước cất. V cất 02 gói ma túy trong tất chân phải; còn 02 bộ xilanh và 02 ống nước cất để ở túi áo khoác rồi đi xe ôm về nghĩa trang liệt sỹ thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng sử dụng hết 01 gói rồi vất vỏ kim tiêm, vỏ nước cất đi. Vào hồi 22 giờ 35' cùng ngày, khi V đang đi bộ đoạn khu vực ngã ba giao cắt giữa QL5 và đường vào thôn Bầu thì bị lực lượng Công an kiểm tra có sự chứng kiến của anh Nguyễn Bá D và anh Đoàn Mạnh T, phát hiện thu giữ 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng để trong tất bên chân phải. V khai là Heroin, cất giấu để sử dụng cho bản thân. Còn 01 xilanh; 01 ống nước cất chưa sử dụng rơi ở đâu và từ bao giờ bị cáo không xác định được.
Kết luận giám định số 43/TB-PC09 ngày 24-12-2020, Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất rắn dạng cục màu trắng thu của Lò Văn V có khối lượng 0,216g là ma túy loại Heroin; hoàn lại sau giám định 0,145g Heroin;
Cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 03-02-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Lò Văn V về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn V từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 25-12-2020; không áp dụng hình phạt bổ sung;
Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu cho tiêu hủy 0,145g Heroin
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại!phiên!tòa:
2
Người bào chữa cho bị cáo V: thừa nhận hành vi đang cất giữ Heerroin trong tất chân của bị cáo V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là có cơ sở. Bị cáo chưa có tiền án, lần đầu thực hiện hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc, không được đi học, ít được tiếp xúc với truyền thông để hiểu biết về tác hại của ma túy, dễ bị cám dỗ bên ngoài xã hội bạn bè rủ dê, thuộc đối tượng hộ nghèo; hiện nay bị cáo phải nuôi 2 con nhỏ, không có việc làm ổn định. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự xét xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất; nhất trí với Viện kiểm sát về miễn hình phạt bổ sung và miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo V.
Bị cáo thừa nhận hành vi đang cất giữ 01 gói ma túy trọng lượng 0,216g Heroin ở trong tất chân phải mục đích để sử dụng thì bị bắt và khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo là đúng, không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định.
Lời nói sau cùng trong phiên tòa: bị cáo xin mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai người chứng kiến tại cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản vụ việc; Kết luận giám định số 43/TB-PC09 ngày 24-12-2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: vào hồi 22 giờ 35 phút ngày 21-12-2020, tại khu vực ngã ba giao cắt giữa QL5 và đường vào thôn Bầu, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉn Hải Dương, khi Lò Văn V đang có hành vi cất giấu 0,216g Heroin trong tất chân phải với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo V là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy loại Heroin là chất Nhà nước cấm tàng trữ nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo vẫn cố ý cất giấu
3
để sử dụng cho bản thân. Heroin là loại ma túy nằm trong danh mục I, STT: 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ. Xét về hành vi, trọng lượng và chất ma túy mà bị cáo đang cất giữ đã đủ yếu tố cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Lò Văn V về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Cẩm Giàng. Chất ma túy có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại rất lớn đến con người cũng như sự an toàn của xã hội; là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]!Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được đến trường học nên không biết chữ. Hiện tại bị cáo không có công việc ổn định lại nuôi 2 con nhỏ, thuộc hộ nghèo; do vậy Hội đồng xét xử xem xét để áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản; thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[5] Về xử lý vật chứng: 0,145g Heroin hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành; HĐXX tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, Công an huyện Cẩm Giàng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 1, Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP là có căn cứ.
Quá trình điều tra chưa xác định được họ tên, tuổi đầy đủ và địa chỉ của người bán ma túy cho bị cáo ở khu vực bờ sông, thị trấn Kẻ sặt, huyện Bình
4
Giang. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Giàng đã có công văn trao đổi với Cơ quan CSĐT công an huyện Bình Giang để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với người lái xe ôm chở bị cáo đi mua ma túy và đi về, quá trình điều tra không xác định được tên, địa chỉ nên không có căn cứa xử lý.
[7] Về án phí: bị cáo V là cá nhân thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH
Căn!cứ!điểm c!khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên!bố bị cáo Lò Văn V phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn V 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 25-12-2020.
Xử!lý!vật!chứng: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 43/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương, bên trong chứa 0,145g Heroin còn nguyên niêm phong (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05-02-2021).!
Án!phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn V.
Quyền!kháng!cáo: căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo V có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi!nhận:!
T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- VKSND tỉnh Hải Dương;!
Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa!
- VKSND huyện Cẩm Giàng;
- Cơ quan CSĐT Công an H Cẩm Giàng ;
- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương.
- Chi cục THADS H. Cẩm Giàng.
- Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương
Đoàn!Thị!Thúy!
- Bị cáo; Người bào chữa;
- Lưu hồ sơ, lưu VP
5
HỘI!THẨM!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!THẨM!PHÁN-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!
6