- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "trah chấp ly hôn, nuoô con"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2021/HNGĐ-ST Ngày 21 tháng 5 năm 2021 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Mỹ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dư Thị Út và ông Thạch Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Tiểu My – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2020/TLST-HNGĐ ngày 20/10/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2021/QĐXX-ST ngày 14 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị C, sinh năm 1992. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 80, ấp L, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Anh Nguyễn H.A, sinh năm 1989. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 1/422, ấp Vĩnh An, xã Vĩnh Trạch, thành phố Bạc Liêu, tỉnh
Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên
đơn chị Thạch Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh A có tự nguyện tìm hiểu quen biết, sống
chung với nhau từ năm 2009, chị và anh A có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/8/2015. Thời gian đầu sống chung với anh A hạnh phúc, đến năm 2014 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải vã, tính tình không hợp nhau, sau đó anh A bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, thời gian đầu vợ chồng còn tới lui, sau này mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên tôi và anh A đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Nay xét thấy hôn nhân mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị yêu cầu ly hôn với anh A.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh A có 02 con chung tên cháu
Nguyễn Thị K.L, sinh ngày 15/11/2010 và cháu Nguyễn Thị K.Q, sinh ngày 08/01/2013. Ngoài ra chị và anh A không còn con chung nào khác, hiện Cháu L đang sống chung với chị C, Cháu Q đang sống chung với anh A. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Cháu L và yêu cầu giao Cháu Q cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con và
không cấp dưỡng nuôi con cho anh A.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn H.A, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt
trực tiếp các văn bản tố tụng nhưng anh A không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cho anh A; anh A cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án; anh A đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án, nên không có lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ
án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị C và anh A có đăng ký kết hôn theo quy định
pháp luật, chị C yêu cầu ly hôn với anh A vì vợ chồng thường xuyên cải vã do tính tình không hợp nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, anh A đã được nhận các văn bản tố tụng và biết rõ yêu cầu của chị C nhưng anh không có ý kiến phản hồi, cho thấy anh không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C đối với anh A.
Về con chung: Giao con chung tên cháu Nguyễn Thị K.L, sinh ngày
15/11/2010 cho chị Thạch Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Nguyễn Thị K.Q, sinh ngày 08/01/2013 cho anh Nguyễn H.A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn H.A và chị Thạch Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C không yêu cầu anh A cấp dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con cho anh A và anh A cũng không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quan điểm
phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:
Về tố tụng:
Chị C yêu cầu ly hôn với anh A, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia
đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh A cư trú tại xã Vĩnh Trạch, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị C có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt và anh Nguyễn H.A đã được Tòa
án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị C và anh A.
Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh A tự nguyện chung sống với nhau như
vợ chồng vào năm 2009, có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/8/2015 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Theo chị C, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không
nhau, bất đồng quan điểm, vợ hồng thường xuyên cải vã, chị C và anh A đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, gia đình hai bên đã khuyên nhủ nhưng jc chồng không thể hàn gắn được nữa, đến nay chị C xác định không còn tình cảm với anh A nữa nên cương quyết yêu cầu ly hôn. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho anh A nhưng anh A không quan tâm, quá trình giải quyết vụ án anh A không lần nào đến Tòa án và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị C. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau chăm sóc gia đình nhưng nay chị C cương quyết xin ly hôn với anh A mà anh A không có thiện chí hòa giải cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ sự mâu thuẫn, rạn nứt trong quan hệ hôn nhân của anh chị không có khả năng hàn gắn lại được. Mặt khác, hôn nhân được duy trì bền vững lâu dài và hạnh phúc là trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, chị C yêu cầu được ly hôn và xác định không thể tiếp tục chung sống với anh A thì việc chung sống không được tự nguyện cũng sẽ dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C, cho chị C được ly hôn với anh A.
[2] Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh A có 02 con chung tên
cháu Nguyễn Thị K.L, sinh ngày 15/11/2010 và cháu Nguyễn Thị K.Q, sinh ngày 08/01/2013. Ngoài ra chị và anh A không còn con chung nào khác, hiện Cháu L đang sống chung với chị C, Cháu Q đang sống chung với anh A. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Cháu L và yêu cầu giao Cháu Q cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại biên bản ghi lời khai Cháu L có nguyện vọng ở
với mẹ và tại biên bản lấy lời khai Cháu Q có nguyện vọng sống chung với cha, đây là sự tự nguyện của Cháu L và Cháu Q không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định pháp luật và hiện tại Cháu L đang sống chung với chị C, Cháu Q đang sống chung với anh A. Do đó, việc giao Cháu L cho chị C nuôi dưỡng và giao Cháu Q cho anh A để tranh xáo trộn tâm lý của các cháu và đảm bảo quyền lợi và phù hợp với nguyện vọng của Cháu Q và Cháu L nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C, giao Cháu L cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng và giao Cháu Q cho anh A theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Anh Nguyễn H.A và chị Thạch Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm con chung
không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không
đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải
quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có
giá ngạch, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Từ các phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên chấp nhận
tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2
Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Khoản 1 Điều 53, Điều 56; Điều 81 và Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia
đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị
Thạch Thị C với anh Nguyễn H.A. Xử cho chị Thạch Thị C được ly hôn với anh Nguyễn H.A.
2. Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh A có 02 con chung tên
cháu Nguyễn Thị K.L, sinh ngày 15/11/2010 và cháu Nguyễn Thị K.Q, sinh ngày 08/01/2013. Ngoài ra chị và anh A không còn con chung nào khác, hiện Cháu L đang sống chung với chị C, Cháu Q đang sống chung với anh A.
Giao Nguyễn Thị K.L, sinh ngày 15/11/2010 cho chị Thạch Thị C trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Nguyễn Thị K.Q, sinh ngày 08/01/2013 cho anh Nguyễn H.A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Nguyễn H.A và chị Thạch Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm con chung
không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải
quyết.
3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí: Chị Thạch Thị C phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình
sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị C đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007127 ngày 12/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bạc Liêu;
- VKSND thành Tp. Bạc Liêu;
- CCTHADS Tp. Bạc Liêu;
- Đương sự;
- Lưu.
Thị Mỹ Hằng TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BẠC LIÊU
Bạc Liêu, ngày 26 tháng 7 năm 2018
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ ngày 26 tháng 7 năm 2018.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Mỹ Hằng
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Hòa
2. Bà Dư Thị Út
Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân thụ lý số 216/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng
6 năm 2018 về tranh chấp ly hôn giữa:
- Nguyên đơn: Anh Bùi Nghi Em, sinh năm 1981. (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu tập thể công an tỉnh Bạc Liêu, khóm 7, phường 1, thành phố Bạc
Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Chị Lý Kim Ngân, sinh năm 1986. (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 33A khóm 3, phường 2, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
-
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; Điều 81 và
Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kết quả Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Không công anh Bùi Nghi Em và chị Lý Kim Ngân là vợ chồng.
Kết quả Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3.
2. Về con chung:
Giao cháu Bùi Kiệt Anh Thư, sinh ngày 04/4/2013 cho anh Bùi Nghi Em
trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. (Hiện cháu Bùi Kiệt Anh Thư đang sống với anh Bùi Nghi Em được giữ nguyên). Chị Lý Kim Ngân có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.
Kết quả Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Bùi Nghi Em không yêu cầu chị Lý Kim
Ngân cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Kết quả Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3.
3. Về tài sản chung:
Anh Bùi Nghi Em và chị Lý Kim Ngân không có, không yêu cầu nên không
đặt ra xem xét, giải quyết.
Kết quả Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3.
4. Về nợ:
Anh Bùi Nghi Em và bị đơn chị Lý Kim Ngân không có, không yêu cầu nên
không đặt ra xem xét, giải quyết.
Kết quả Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3.
5. Về án phí: Anh Bùi Nghi Em phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm không có
giá nghạch là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Anh Bùi Nghi Em đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008242 ngày 01/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
Kết quả Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị Trần Thị
Ngọc Vàng và anh Lâm Văn Nhựng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Kết quả Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi …. giờ….. phút, ngày 26 tháng 7 năm 2018.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng
nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA