vanban.org

Bản án 16/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Th đối với anh Mai Xuân H.

Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử: Chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Mai Xuân H. Về con chung của vợ chồng: Áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình: Giao con giao con Mai Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 08/6/2016 c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn Nguyễn Thị Th và Mai Xuân H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Th đối với anh Mai Xuân H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 luật hôn nhân và gia đình buộc anh Mai Xuân H phải
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUYÊN HOÁ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 20 - 7 - 2021
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Dần

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Minh Khai

2. Ông Trần Xuân Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Quang Phú – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 30/2021/TLST - HNGĐ ngày 16/3/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐST- DS ngày 09/6/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2021/QĐHPT – DSST ngày 23/6/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thi Th, sinh năm: 1998.

Địa chỉ: Thôn 2 Thanh L, xã H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (có mặt).

Bị đơn: Anh Mai Xuân H, sinh năm: 1992.

Địa chỉ: Thôn 2 Thanh L, xã H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 09/03/2021 và bản tự khai ngày 30/04/2021 chị Nguyễn Thi Th trình bày: Tôi (Nguyễn Thi Th) và anh Mai Xuân H tìm hiểu và đi đến kết hôn hoàn toàn tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình vào ngày 09/08/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà bố mẹ chồng ở thôn 2 Thanh L, xã H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H thường xuyên uống rượu về đánh đập chị Th. Đến tháng 02 năm 2021 chị Th không chịu được nữa nên đã chuyển về nhà ngoại sống vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Hiện tại chị Th cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị Th làm đơn xin ly hôn anh Mai Xuân H.

Về con chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thi Th khai vợ chồng có một đứa con chung tên là Mai Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 08/6/2016 hiện đang sống cùng chị Th. Sau khi ly hôn chị Th có nguyện vọng xin được nuôi con và yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ.

Về tài sản và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Th khai hai vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Chị Nguyễn Thị Th đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa theo biên lai số 0007986 ngày 16/3/2021 nay xin chịu toàn bộ.

Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã thụ lý vụ án theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị th tiến hành thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều nhưng chỉ có mặt chị Nguyễn Thị Th còn anh Mai Xuân H vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không lấy được lời khai của anh Hoài và tiến hành hòa giải được.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa phát biểu tại phiên tòa đối với Thẩm phán và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng và đủ thành phần theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết chị Nguyễn Thị Th đều có mặt theo giấy triệu tập và thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án còn anh Mai Xuân H vắng mặt không có lý do Tòa án đã tiến hành thu thập đầy đủ chứng cứ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Th có mặt còn anh Mai Xuân H vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Mai Xuân H. Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xử chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Mai Xuân H. Về con chung đề nghị áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình giao con Mai Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 08/6/2016 cho chị Nguyễn Thị Th chăm sóc và nuôi dưỡng. Áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình buộc anh Mai Xuân H phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con theo quy định của pháp luật. Tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng không có đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị Th đã nộp số tiền 300.000đ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay phải chịu toàn bộ, án phí cấp dưỡng nuôi con anh Mai Xuân H phải chịu 300.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Th xin ly hôn anh Mai Xuân H có hộ khẩu thường trú tại thôn 2 Thanh L, xã H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Quá trình giải quyết Tòa án đã thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng chỉ có mặt chị Nguyễn Thị Th có mặt còn anh Mai Xuân H vắng mặt nhiều lần không rõ lý do. Tòa án đã phối hợp với UBND xã Thanh Hóa xác minh tại địa phương thì anh Mai Xuân H có mặt tại địa phương và văn phòng UBND xã H đã trực tiếp giao các giấy triệu tập và thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án cho anh Hoài nhưng từ chối không nhận. Tiến hành đến tại nhà anh Mai Xuân H nhưng anh H không có mặt vì vậy Tòa án không thể lấy lời khai của anh Mai Xuân H và hòa giải được. Tòa án đã tiến hành mở phiên tòa xét xử lần thứ nhất phải hoãn phiên tòa vì lý do anh Mai Xuân H vắng mặt không có lý do. Phiên tòa xét xử lần thứ hai anh H vẫn tiếp tục vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Mai Xuân H

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thi Th và anh Mai Xuân H tìm hiểu để đi đến kết hôn là do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc đã đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, nhưng trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn vì anh H thường xuyên uống rượu về đánh đập chị Th. Tháng 2 năm 2021 chị Th không chịu đựng được nữa nên đã đem theo con về nhà ngoại sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Tại phiên tòa hôm nay chị Th một mực xin được xin ly hôn vì tình cảm vợ chồng thực sự không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Mai Xuân H thực sự không còn nữa, hai bên đã sống ly thân bỏ mặc không quan tâm đến nhau nữa, mâu thuẫn không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được nếu kéo dài thì không có lợi cho cả hai phía vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy việc chị Th xin được ly hôn anh Hoài là có căn cứ phù hợp với các quy định của pháp luật. Nên cần áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xét xử chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Mai Xuân H.

Về con chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Th khai vợ chồng có một đứa con chung tên là Mai Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 08/6/2016 từ khi vợ chồng ly thân con sống cùng chị Th, nguyện vọng của chị Th sau khi ly hôn xin được tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng của chị Thảo là hoàn toàn chính đáng vì hiện con cũng đang còn nhỏ nên cần áp dụng các Điều 81, Điều 82 , Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình giao con Mai Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 08/6/2016 cho chị Nguyễn Như Th chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con khôn lớn, trưởng thành.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng chị Nguyễn Thị Th yêu cầu anh Mai Xuân H phải đóng góp tiền nuôi con hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng này là phù hợp nên cần áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 luật hôn nhân và gia đình để buộc anh Mai Xuân H phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) thời gian tính từ tháng 8/2021 cho đến lúc con đủ 18 tuổi.

Chị Nguyễn Thị Th không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung đối với anh Mai Xuân H, trường hợp cần thiết vì quyền lợi của con anh H có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con .

Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Th khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn thị Th đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0007986 ngày 16/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Mai Xuân Hoài phải chịu 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Th đối với anh Mai Xuân H.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Mai Xuân H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử: Chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Mai Xuân H.

2. Về con chung của vợ chồng: Áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình: Giao con giao con Mai Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 08/6/2016 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con khôn lớn, trưởng thành.

3. Áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 luật hôn nhân và gia đình buộc anh Mai Xuân H phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến lúc con đủ 18 tuổi. Thời gian tính từ tháng 8/2021.

Chị Nguyễn Thị Th không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung đối với anh Mai Xuân H, trường hợp cần thiết vì quyền lợi của con anh H có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con .

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí ly hôn: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền mà chị Nguyễn Thị Th đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai số 0007986 ngày 16/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Như vậy chị Nguyễn Thị Th đã nộp đủ án phí.

Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Mai Xuân H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Nguyễn Thị Th, vắng mặt anh Mai Xuân H. Tuyên bố chị Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án (20/7/2021) anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

Cỡ chữ