vanban.org

Bản án 16/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấpnhậntoànbộ yêu cầukhởi kiệncủachị Nguyễn Thị Diễm M.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm M được ly hôn với anh Võ Hoàng L. [2]. Về con chung: Giao con chung là Võ Hoàng A – Sinh ngày 22/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa M và L"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấpnhậntoànbộ yêu cầukhởi kiệncủachị Nguyễn Thị Diễm M.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG XUÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 07/12/2021
V/v tranh chấp: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lý Vũ

2. Bà Nguyễn Thị Kiều Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Phan Quỳnh Như – Kiểm sát viên.

Vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 07 tháng 11 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2021 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm M – Sinh năm: 1992

Địa chỉ: Kp. T, thị trấn C, huyện A, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Võ Hoàng L – Sinh năm: 1989

Địa chỉ: Kp. N, thị trấn H, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm M tại phiên tòa như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Hoàng L tự nguyện tìm hiểu trong thời gian 03 năm rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên vào ngày 01/10/2014. Sau khi kết hôn, cả hai chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian dài, năm 2018 thì cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Năm 2019 thì cả hai không sống chung với nhau nữa, cũng không liên lạc hỏi thăm nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M nộp đơn yêu cầu xin ly hôn với anh L để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Chị M và anh L có 01 con chung là Võ Hoàng A – Sinh ngày 22/7/2015. Nguyện vọng của chị là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Anh, không yêu cầu anh L cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, xây dựng hồ sơ, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn anh Võ Hoàng L để lấy lời khai, tham gia phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L không có mặt. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ để anh L tham gia phiên tòa nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.

* Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ L tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.

- Về hôn nhân: Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 L Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diễm M.

- Về con chung: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 58, 81, 82, 83 L Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung là cháu Võ Hoàng A – Sinh ngày 22/7/2015 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Mức cấp dưỡng nuôi con chung do chị M không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị M phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Diễm M yêu cầu ly hôn với anh Võ Hoàng L, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Anh L đăng ký hộ khẩu thường trú tại thị trấn H, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đối với anh L theo quy định tại Điều 177 Bộ L tố tụng dân sự nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ L tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm M và anh Võ Hoàng L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên vào ngày 01/10/2014 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình thụ lý, giải quyết, Tòa án đã xác minh tại địa phương nơi anh L sinh sống, ông Trần Quốc Duy – Công an thị trấn H phụ trách khu phố N cung cấp thì anh L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố N, thị trấn H, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Hiện nay anh L không có mặt tại địa phương; Về tình trạng hôn nhân giữa anh L và chị M như thế nào thì địa phương không biết vì chị M không sinh sống tại địa phương. Hội đồng xét xử, xét thấy đời sống hôn nhân giữa chị M và anh L có nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân đã chấm dứt trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được, chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn nên HĐXX thống nhất cho chị M được ly hôn với anh L.

. Về con chung: Chị M và anh L có 01 con chung là Võ Hoàng A – Sinh ngày 22/7/2015. Hội đồng xét xử xét thấy chị M có công việc ổn định, có thu nhập, đủ điều kiện để chăm sóc cho cháu A. Hiện nay anh L không có mặt tại địa phương, không đảm bảo điều kiện chăm sóc con. Vì vậy, HĐXX thống nhất giao cháu Anh cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Về mức cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

. Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu nên HĐXX không xét giải quyết.

. Về án phí: Chị M phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ-ST theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ L tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 L Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ L tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấpnhậntoànbộ yêu cầukhởi kiệncủachị Nguyễn Thị Diễm M.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm M được ly hôn với anh Võ Hoàng L.

[2]. Về con chung: Giao con chung là Võ Hoàng A – Sinh ngày 22/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Võ Hoàng L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết, chị M, anh L có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Về án phí HNGĐ-ST: Chị Nguyễn Thị Diễm M phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng chẵn) án phí HNGĐ-ST nhưng được trừ vào số tiền chị M đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng chẵn) theo biên lai số AA/2019/0006808 ngày 05/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

[4]. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Diễm M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Võ Hoàng L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ