vanban.org

Bản án 16/2021/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng cứ khoản 1 Điều 6; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VẠN NINH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/DSST
Ngày 03 tháng 6 năm 2021
V /v: "Tranh chấp hợp đồng
dân sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kim Trọng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Quang Thành

2. Bà Phạm Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn

Ninh - tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa

tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Huynh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa, tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 134/2020/TLST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2020, tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Bà Lương Thị L - sinh năm: 1954; trú tại: Thôn D, xã B, huyện VN, tỉnh K H. Có mặt.

2. Bị đơn:

Anh Trần Văn T - sinh năm: 1967, chị Nguyễn Thị T - sinh năm: 1967;

Cùng trú tại: Thôn D, xã B, huyện VN, tỉnh KH. Anh T và chị T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 8 năm 2020; biên bản ghi lời khai ngày 14/01/2021 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lương Thị L trình bày:

Bà Lương Thị L và chị Nguyễn Thị T, anh Trần Văn T, trú tại: Thôn D, xã B, huyện VN, tỉnh KH có quan hệ bà con với nhau vào ngày 21 tháng 8 năm 2018 âm lịch bà L cho vợ chồng chị T, anh T vay số tiền 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) vay không có lãi để vợ chồng chị T, anh T về làm ăn. Chị t anh T hẹn đến ngày 21/02/2019 âm lịch sẽ trả lại toàn bộ số tiền đã vay cho bà L. Đến hạn trả nợ bà L nhiều lần yêu cầu chị T, anh T trả số nợ trên nhưng chị T, anh T hẹn hết lần này đến lần khác mà không trả cho bà L bất cứ một khoản nào. Tại phiên tòa bà Lương Thị L yêu cầu chị T, anh T trả số tiền 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) tiền gốc. Bà L không yêu cầu chị T, anh T phải trả số tiền lãi do chậm trả

Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh đã nhiều lần triệu tập anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T đến để giải quyết vụ kiện trên nhưng anh T chị T không đến nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn, đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả trả số tiền gốc 50.000.000đ (năm mươi triệu bốn triệu đồng) cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh đã triệu tập hợp lệ anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T đến Tòa để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh T, chị T không đến. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị T.

Nguyên đơn bà Lương Thị L yêu cầu anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ trả cho bà L 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) tiền gốc và không yêu cầu trả lãi.

Căn cứ vào giấy mượn tiền của anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T được xác lập ngày 21/8/2018 (âm lịch) do nguyên đơn bà Lương Thị L cung cấp thì bà L cho anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) vay không có lãi hai bên thỏa thuận đến ngày 21/02/2019 anh T chị T sẽ trả cho bà L toàn bộ số tiền đã vay. Đến hẹn trả nợ bà Liên nhiều lần đến nhà anh T, chị T yêu cầu trả số tiền trên nhưng anh T chị T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà L mà hai bên đã cam kết trong hợp đồng vay. Do đó anh T, chị T đã vi phạm về thời gian thanh toán nợ mà hai bên đã cam kết trong hợp đồng vay ngày 21/8/2018 âm lịch theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự. Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh đã nhiều lần triệu tập anh T, chị T đến Tòa để giải quyết việc kiện trên nhưng anh T, chị T không đến thể hiện rõ anh T, chị T không có thiện chí giải quyết vụ kiện và cố tình kéo dài việc giải quyết vụ án làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn được pháp luật bảo vệ. Do đó Hội đồng xét xử có có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc anh T, chị T phải có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền nợ gốc 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) là có căn cứ và đúng luật.

Về lãi: Bà L không yêu cầu nên Tòa không xét.

Về án phí: anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Điều 26, Điều 35, điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273

của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Áp dụng Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự;

- Áp dụng cứ khoản 1 Điều 6; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Buộc ông anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T phải trả cho bà Lương Thị L 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

Quy định: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án một khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí:

+ Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

+ Nguyên đơn bà Lương Thị L không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn trả lại cho bà Lương Thị L số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng)tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0003386 ngày 24 tháng 8 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Nguyên đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ