vanban.org

Bản án 16/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chiêm Mỹ Lan Đ.

Buộc bà Trang Tuyết N có nghĩa vụ trả cho bà Chiêm Mỹ Lan Đ số tiền 181.200.000 đồng (Một trăm tám mươi mốt triệu, hai trăm nghìn đồng). Kể từ ngày bà Đ có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà N không trả số tiền trên thì còn phải trả cho bà Đ khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Chiêm Mỹ Lan Đ khởi kiện bà Trang Tuyết N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chiêm Mỹ Lan Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/DS-ST
Ngày: 21-5-2021
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
và hợp đồng góp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Kiệt

2. Bà Huỳnh Phương Lan

Thư ký phiên toà: Bà Lữ Cẩm Nhung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 21 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 170/2021/TLST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2021/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Chiêm Mỹ Lan Đ, sinh năm 1966 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Bà Trang Tuyết N, sinh năm 1965 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Chiêm Mỹ Lan Đ trình bày tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Bà Chiêm Mỹ Lan Đ có cho bà Trang Tuyết N vay tiền nhiều lần, đến ngày 05-7-2020 bà Đ và bà N chốt nợ lại là bà N còn nợ bà Đ số tiền 187.500.000 đồng, bà N có ký vào tờ cam kết trả nợ và hứa sẽ trả mỗi tuần 500.000 đồng. Sau đó bà N chỉ trả cho bà Đ được 6.300.000 đồng, còn lại 181.200.000 đồng. Nhiều lần bà Đ yêu cầu bà N trả nợ nhưng bà N vẫn không trả nợ cho bà Đ.

Tại phiên tòa bà Đ xác nhận lại trong số tiền 181.200.000 đồng bà N còn nợ bà gồm cả tiền hốt hụi vì bà N có tham gia chơi một số dây hụi do bà làm chủ khoảng 3-4 năm về trước và đã hốt hụi nhưng chưa đóng lại tiền hụi chết, hiện nay các dây hụi đều đã kết thúc. Do thời gian đã lâu nên bà không xác định được tiền vay bao nhiêu và tiền hụi bao nhiêu.

Nay bà Đ yêu cầu bà N trả cho bà số tiền 181.200.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất và yêu cầu trả mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ.

- Bị đơn bà Trang Tuyết N trình bày:

Bà Trang Tuyết N có vay tiền nhiều lần và chơi hụi, hốt hụi của bà Chiêm Mỹ Lan Đ tính đến ngày 05-7-2020 chốt nợ lại thì bà còn nợ bà Đ số tiền 187.500.000 đồng, bà không xác định được cụ thể số tiền vay bao nhiêu và tiền hụi là bao nhiêu, bà N có ký vào tờ cam kết trả nợ và hứa sẽ trả mỗi tuần 500.000 đồng. Nhưng sau đó bà chỉ trả cho bà Đ được 6.300.000 đồng rồi do hoàn cảnh khó khăn nên không tiếp tục trả nữa. Bà N thừa nhận hiện nay bà còn nợ bà Đ số tiền 181.200.000 đồng tiền vay và tiền hụi, bà đồng ý trả nợ cho bà Đ nhưng xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 24-3-2021 bà Chiêm Mỹ Lan Đ có đơn khởi kiện yêu cầu bà Trang Tuyết N trả cho bà số tiền nợ vay 181.200.000 đồng, tại phiên tòa bà Đ xác nhận số tiền 181.200.000 đồng gồm cả tiền nợ vay và tiền nợ hụi nên Toà án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Chiêm Mỹ Lan Đ yêu cầu bà Trang Tuyết N trả cho bà số tiền 181.200.000 đồng, bà Đ không yêu cầu tính lãi suất, Toà án nhận thấy:

Bà Trang Tuyết N có nợ tiền hụi và tiền vay của bà Chiêm Mỹ Lan Đ tính đến ngày 05-7-2020 tổng cộng là 187.500.000 đồng. Sau đó, bà N đã trả cho bà Đ được 6.300.000 đồng, còn nợ lại bà Đ số tiền 181.200.000 đồng, bà Đ yêu cầu bà N trả cho bà số tiền là 181.200.000 đồng, trả mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ. Tại tòa án, bà Trang Tuyết N thừa nhận hiện nay còn nợ bà Đ số tiền 181.200.000 đồng, bà N đồng ý trả nợ cho bà Đ nhưng xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ. Bà Đ không đồng ý với cách trả nợ của bà N. Do đó, việc bà Đ yêu cầu bà N trả số tiền 181.200.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ các điều 463, 466 và 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chiêm Mỹ Lan Đ; buộc bà Trang Tuyết N phải trả cho bà Chiêm Mỹ Lan Đ số tiền 181.200.000 đồng.

Bà Đ không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với yêu cầu trả nợ dần của các đương sự không thuộc thẩm quyền của Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên buộc bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải trả cho bà Đ như sau: 181.200.000 đồng x 5% = 9.060.000 đồng.

Bà Chiêm Mỹ Lan Đ không phải chịu án phí, hoàn trả tiền tạm ứng án phí 4.530.000 đồng cho bà Đ theo biên lai thu số 0001607 ngày 26-3-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26, 147, 266 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các điều 463, 466, 471 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 30 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27-11-2006 và Điều 27 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ quy định về, họ, hụi, biêu, phường; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chiêm Mỹ Lan Đ.

2. Buộc bà Trang Tuyết N có nghĩa vụ trả cho bà Chiêm Mỹ Lan Đ số tiền 181.200.000 đồng (Một trăm tám mươi mốt triệu, hai trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bà Đ có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà N không trả số tiền trên thì còn phải trả cho bà Đ khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trang Tuyết N có nghĩa vụ nộp án phí là 9.060.000 đồng (Chín triệu sáu mươi nghìn đồng).

Bà Chiêm Mỹ Lan Đ không phải chịu án phí, hoàn trả tiền tạm ứng án phí 4.530.000 đồng cho bà Đ theo biên lai thu số 0001607 ngày 26-3-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ