vanban.org

Bản án 16/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 29/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2020.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HSST
Ngày 29/10/2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Ứng

2. Ông Thạch Tân Dân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nơi – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2020/HSST ngày 08 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXXST-HS ngày 15/10/2020 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Quốc T (không có tên thƣờng gọi), sinh ngày 05 tháng 7 năm 2000 tại Tiền Giang; Chứng minh nhân dân số: 312418758 Cấp ngày 10/5/2019 Tại Công an Tiền Giang.

Nơi cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Ngọc T, mẹ Phạm Thảo N; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 07/9/2020 tạm giam từ ngày 10/9/2020; có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thành V, sinh năm 1998, vắng mặt

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Quốc T là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 03/9/2020, bị cáo hỏi mượn xe mô tô biển số 62H1-6217 của anh Nguyễn Thành V để đi công việc, anh V đồng ý. Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô đi đến khu vực Cầu Sao thuộc địa phận huyện C, tỉnh Tiền Giang gặp một người không rõ họ tên, địa chỉ nhưng có tên thường gọi là B để mua một gói nylon được hàn kín bên trong có chứa ma túy với giá với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Sau khi mua ma túy xong, bị cáo điều khiển xe mô tô trở về nhà của anh V và trả xe. Trong ngày 03/9/2020 và ngày 04/9/2020 bị cáo đi bộ ra khu vực chồi tôm gần nhà của anh V để sử dụng một phần ma túy, phần ma túy còn lại bị cáo giấu trong người.

Khoảng 21 giờ ngày 07/9/2020 bị cáo mượn xe mô tô biển số 62H1-6217 của anh V để đến nhà một người bạn tên P (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) nhà gần bến phà B chơi và mang theo gói nylon có chứa số ma túy còn lại, khi bị cáo qua bến phà T thuộc ấp T, xã P, huyện T thì bị lực lượng công an huyện T bắt quả tang bị cáo đang cầm trên tay gói nylon có chứa tinh thể màu trắng.

Căn cứ Kết luận giám định số 186 ngày 09/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Số lượng ma túy bị cáo tàng trữ có khối lượng 0,1160 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS-TPĐ ngày 08 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Quốc T từ 01 năm tù đến 01năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng áp dụng: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 186 ghi ngày 09 tháng 9 năm 2020, có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thị Kiều Linh (Giám định viên), Nguyễn Quốc Phong (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Hồ Thanh Hoài (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín chứa 0,0769 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

- 01 (một) con dao (loại dao bấm) màu đen.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo xác định việc Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ tang vật là đúng như biên bản đã lập và việc mở niêm phong để giám định có mặt bị cáo, bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ ma túy dùng vào mục đích sử dụng là có tội. Bị cáo nói lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Quốc T có đầy đủ năng lực hành vi, do nghiện ma túy nên đã mua ma túy của người tên B không rõ họ tên, địa chỉ đem về nhằm mục đích sử dụng. Căn cứ Kết luận giám định số 186 ngày 09/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Số lượng ma túy bị cáo tàng trữ có khối lượng 0,1160 gam, loại Methamphetamine. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

……………………

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện, tàng trữ, sử dụng có thể hủy hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, dẫn đến mất trật tự xã hội. Vì muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo bất chấp những quy định của pháp luật về ma túy mà đi vào con đường phạm tội là tàng trữ ma túy nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu nghiện hút ma túy.

Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ thì thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; thật thà khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Từ hành vi phạm tội, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, về nhân thân cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt tương ứng với hành vi của bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự có quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ...”. Nhưng xét thấy, bị cáo không có tài sản, thuộc thành phần lao động phổ thông, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Bị cáo trình bày, bị cáo mua ma túy của người tên B không rõ họ tên địa chỉ cụ thể, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tân Phú Đông sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với xe máy biển số 62H1-6217 là phương tiện mà bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Trong quá trình điều tra xác định xe máy biển số 62H1-6217 do anh Nguyễn Thanh V nhờ người quen mua dùm từ một người ở L với giá 3.000.000 đồng, hiện anh V là người chiếm hữu, quản lý hợp pháp xe này, khi anh V cho bị cáo sử dụng xe để làm phương tiện đi lại, anh không biết bị cáo dùng xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh V là phù hợp pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- Một gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong một bì thư màu trắng được niêm phong vụ số 186 ngày 09/9/2020 là chất ma túy cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.

- Một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 186 ghi ngày 09 tháng 9 năm 2020 (đã giám định hết không còn mẫu) tịch thu tiêu hủy.

- Một con dao (loại dao bấm) màu đen là hung khí nguy hiểm cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Qua xem xét những chứng cứ buộc tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2020.

Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Quốc T 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án, kể từ ngày tuyên án.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

*Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 186 ghi ngày 09 tháng 9 năm 2020, có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thị Kiều Linh (Giám định viên), Nguyễn Quốc Phong (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Hồ Thanh Hoài (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín chứa 0,0769 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

- 01 (một) con dao (loại dao bấm) màu đen.

(Tang vật theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/10/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông).

Thi hành khi án có hiệu lực.

3.Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội;

- Bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu 200.000đ án phí hình sự.

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố

tụng hình sự năm 2015;

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ