vanban.org

Bản án 16/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai Tuyên án 02/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Doãn Hữu H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Doãn Hữu H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/12/2019 Tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ( Bốn mươi lăm ) ngày kể từ ngày tuyên án ( 02/6/2020 ) để bảo đảm thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Doãn Hữu H "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Doãn Hữu H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH GIA LAI
Bản án số:16/2020/HSST
Ngày 02 tháng 06 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh;

- Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Miền , ông Lê Đình Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Diệp - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 02/06/2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) huyện Đ, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2020/HSST ngày 25 tháng 03 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 04 năm 2020, đối với bị cáo:

Doãn Hữu H Sinh năm: 1997. Tại: Đ, Gia Lai.

Địa chỉ: Thôn Ia K, xã Ia N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp, Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: không,

Trình độ học vấn: 06/12

Con ông Doãn Hữu T ( chết )và bà Phan Thị H.

Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án: Không. Tiền sự: Không.

Nhân thân: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2019. Có mặt tại phiên tòa.

Bị Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND)huyện Đ, tỉnh Gia Lai truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 ( BLHS );

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1.Anh Đỗ Tất L

Sinh năm 1998.

Địa chỉ: Thôn Ia C, xã Ia N, huyện Đ, Tỉnh Gia Lai (xin vắng mặt)

2.Bà Phan Thị H Sinh năm 1967

Địa chỉ: Thôn Ia K, xã Ia N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (có mặt)

3.Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1976

Địa chỉ:Thôn Mooc đ, xã Ia D, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.(vắng mặt)

- Người chứng kiến:

Đỗ Trọng D

Sinh năm 1981. (vắng mặt)

Địa chỉ: Làng Đ, xã Ia D, huyện Đ, tỉnh Gia Lai

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 06/12/2019, tại nhà nghỉ Hương Rừng thuộc thôn Mook Đ, xã Ia D, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, Công an huyện Đ đã phát hiện bắt quả tang Doãn Hữu H có hành vi đang tàng trữ 28 gói ma túy. H khai nhận số ma túy bị bắt giữ là loại ma túy đá .

Tại cơ quan điều tra, H tiếp tục khai nhận: Vào khoảng 11 giờ 00 ngày 30/11/2019, tại nơi ở của H thuộc thôn Ia K, xã Ia N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, H có bán cho Đỗ Tất L trú thôn Ia C, xã Ia N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai một lượng ma túy lấy số tiền 300.000đ

Tại Kết luận giám định số 36/KLGĐ ngày 12/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: Toàn bộ chất màu trắng, dạng tinh thể trong 28 (hai mươi tám) gói nilon trong bì thư niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,9739 gam.

Tại Bản Cáo trạng số: 11/CTr- VKS ngày 24/03/2020 của VKSND huyện Đ, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Doãn Hữu H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 BLHS

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử ( HĐXX ) tuyên bố bị cáo Doãn Hữu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38,50; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.

- Hình phạt chính: Đề nghị xử phạt bị cáo Doãn Hữu H từ 02 năm 06 tháng tù (Hai năm sáu tháng tù) đến 03 (Ba)năm tù.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị xử phạt bị cáo Doãn Hữu H từ 5.000.000đ đến 8.000.000đ (Năm triệu đến tám triệu đồng)

*Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Áp dụng Điều 47 BLHS 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự ( BLTTHS). Đề nghị HĐXX: Tịch thu tiêu hủy chất rắn màu trắng dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 28 (hai mươi tám) gói nilon còn lại sau giám định, có khối lượng 1,6913 gam và vỏ bao gói được niêm phong trong 01 (một) bì công văn, mặt trước ghi “Số 36/PC09, ngày 12 tháng 12 năm 2019”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI *PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Văn Long và Lê Thế Thành và 01 (một) túi màu đen có dây rút.

Đối với bộ dụng cụ sử dụng ma túy, sau khi H và L sử dụng xong đã vứt ra vườn cao su gần nhà, Cơ quan CSĐT đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được nên không đề nghị xem xét.

+Đối với số tiền 300.000đ là tiền do H bán ma túy cho L vào khoảng 11 giờ 00 ngày 30/11/2019 ), là tiền do phạm tội mà có, đề nghị truy thu sung vào ngân sách Nhà nước

*Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo pháp luật qui định.

Bị cáo nhất trí với lời luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên, không có ý kiến gì tranh luận gì, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan , người tiến hành tố tụng đã thực hiện bảo đảm theo trình tự tố tụng.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 06/12/2019, tại nhà nghỉ Hương Rừng thuộc thôn Mook Đ, xã Ia D, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, Công an huyện Đ đã bắt quả tang Doãn Hữu H có hành vi đang tàng trữ 28 gói ma túy. H khai nhận số ma túy bị bắt giữ là loại ma túy đá.

Ngoài việc tàng trữ ma túy nêu trên, H đã khai nhận vào khoảng 11 giờ 00 ngày 30/11/2019, tại nơi ở của H thuộc thôn Ia K, xã Ia N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, H đã có hành vi bán cho Đỗ Tất L trú thôn Ia C, xã Ia N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai 1 lượng ma túy để lấy số tiền 300.000đ, sau đó cả 2 cùng sử dụng hết. Bị cáo còn thừa nhận việc mua số ma túy trên về cất giữ với mục đích để sử dụng và bán cho người khác có nhu cầu để kiềm tiền lời.

Tại Kết luận giám định số 36/KLGĐ ngày 12/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: Toàn bộ chất màu trắng, dạng tinh thể trong 28 (hai mươi tám) gói nilon trong bì thư niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,9739 gam.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm các qui định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang trong nhân dân trên địa bàn. Do đó Cáo trạng của VKSND huyện Đ, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng Pháp luật.

Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Doãn Hữu H có hành vi “ Mua bán trái phép chất ma túy ” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS .

Xét thấy ma túy là chất gây nghiện gây, gây nguy hiểm cho sức khỏe cho người sử dụng, nhưng do lợi nhuận của việc mua bán ma túy mang lại nhiều, nên bị cáo bất chấp đạo đức, bất chấp pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang, bất bình cho nhân dân trên địa bàn. Do đó cần phải xử lý nghiêm khắc, góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy nói chung, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định. Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung là cần thiết.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc xem xét các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt phù hợp với hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 là “ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Đối với chất rắn màu trắng dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 28 (hai mươi tám) gói nilon còn lại sau giám định, có khối lượng 1,6913 gam và vỏ bao gói được niêm phong trong 01 (một) bì công văn, mặt trước ghi “Số 36/PC09, ngày 12 tháng 12 năm 2019”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI *PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Văn Long và Lê Thế Thành;

- 01 (một) túi màu đen có dây rút.

Là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy

- Đối với bộ dụng cụ ma túy, sau khi cùng Đỗ Tất Lợi sử dụng xong, H đã vứt ra vườn cao su gần nhà. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không có kết quả nên không đề cập xử lý.

- Đối với số tiền 300.000đ, bị cáo bán ma túy cho Đỗ Tất L vào ngày 30/11/2019, là tiền do phạm tội mà có, cần truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với hành vi và đối tượng liên quan trong vụ án:

-Đối với hành vi chuẩn bị bộ dụng cụ để cùng với Đỗ Tất L sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của Doãn Hữu H. Quá trình điều tra xác định H và L đều nghiện ma túy và H không có chỉ huy, phân công cho ai chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà chính H tự chuẩn bị. Do đó, hành vi của H không phạm vào tội sản xuất dụng cụ dùng vào việc sử dụng ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

- Đối với Đỗ Tất L, đã mua ma túy của H với tổng số tiền là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) và cùng H sử dụng hết. Hành vi của L dã bị Công an huyện Đ quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000350/QĐ-XPHC ngày 12/02/2020, nên không đề cập xử lý.

-Đối với Hoàng Thị T là chủ nhà nghỉ Hương Rừng hoàn toàn không biết việc H tàng trữ, sử dụng ma túy tại nhà nghỉ của mình. Do đó, không có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà T, nhưng việc nhà nghỉ của bà T không có biển cấm việc sử dụng ma túy và đã để H lợi dụng khu vực mình quản lý để sử dụng chất ma túy, nên Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị và Ủy ban nhân dân huyện Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVPHCngày 12/02/2020 đối với bà T, nên không đề cập xử lý.

- Đối với nguồn gốc ma túy. H khai mua của người đàn ông tại ngã tư Lâm Nghiệp thuộc phường Chi Lăng, Tp.Pleiku, tỉnh Gia Lai và chở H đến địa điểm ngã tư Biển Hồ - đường Phạm Văn Đồng thuộc phường Yên Thế, Tp.Pleiku, tỉnh Gia Lai để giao ma túy. Ngoài lời khai của bị cáo không có thông tin nào khác. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Đối với bà Phan Thị H (là mẹ ruột của H) hoàn toàn không biết việc H mua ma túy về cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời, nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm gì đối với bà H là phù hợp, nên không đề cập xử lý.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật .

Cần tuyên quyền kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo pháp luật qui định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Doãn Hữu H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38, 50; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Doãn Hữu H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/12/2019

- Căn cứ Khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 ( BLTTHS 2015 )

Tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ( Bốn mươi lăm ) ngày kể từ ngày tuyên án ( 02/6/2020 ) để bảo đảm thi hành án.

- Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Doãn Hữu H 5.000.0000đ ( Năm triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng Điều 47 BLHS 2015; Điều 106 BLTTHS 2015

+ Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng của vụ án là Chất rắn màu trắng dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 28 (hai mươi tám) gói nilon còn lại sau giám định, có khối lượng 1,6913 gam và vỏ bao gói được niêm phong trong 01 (một) bì công văn, mặt trước ghi “Số 36/PC09, ngày 12 tháng 12 năm 2019”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI *PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Văn Long và Lê Thế Thành +01 (một) túi màu đen có dây rút.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/03/2020 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Gia Lai)

+ Truy thu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng )đối với bị cáo Doãn Hữu H để sung vào Ngân sách Nhà Nước.

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc bị cáo Doãn Hữu H phải chịu 200.000đ ( Hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15( Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (02/6/2020). Người có quyền lợi liện quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ( mười lăm ) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản sao Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ