- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào Thị L cùng đồng phạm bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Thào Thị L ( tên gọi khác: không);, Sủng Giả C ( tên gọi khác: Sùng A C) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 16/2020/HSST Ngày: 27 - 4- 2020 ơ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tòng Văn Quân,
2. Ông Vũ Trung Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020 đối với các bị cáo:
1 - Họ và tên: Thào Thị L (Tên gọi khác: không ); Sinh năm 1974 tại huyện M, Yên Bái. Nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: không học; Con ông Thào Nhìa N (đã chết) và bà Giàng Thị K (đã chết); Có chồng: Sủng Giả C, sinh năm: 1973 và có 06 con (con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2009); Tiền án: không; Tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 17/12/2019 đến 26/12/2019; Tạm giam từ ngày 26/12/2019 đến nay. Có mặt.
2 - Họ và tên: Sủng Giả C (Tên gọi khác: Sùng A C), sinh năm: 1973 tại huyện Đ, Điện Biên. Nơi cư trú: Bản Pu Nhi B, xã Pu Nhi, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: Không học; Con ông Sủng Giống S, sinh năm 1939 và bà Hạng Thị D (Đã chết); Có vợ là Thào Thị L, sinh năm: 1974 và có 06 con (Con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2009); Tiền án: không; Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 19/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 26 tháng tù về tội " Vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy" đến nay đã được xóa án tích.
Bị tạm giữ từ ngày 17/12/2019 đến 26/12/2019; Tạm giam từ ngày 26/12/2019 đến nay. Có mặt.
Người phiên dịch: Anh Tráng A S – sinh năm 1996. Trú tại tổ dân cư số 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ, ngày 17/12/2019, Tổ công tác Công an thi trấn Đ đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực tổ 2 phát hiện 02 đối tượng đang điều khiển xe máy đi từ hướng bản C, xã K về thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên có dấu hiệu vi phạm pháp luật, tổ công tác yêu cầu hai đối tượng dừng xe để kiểm tra. Qúa trình kiểm tra người lái xe tên Sủng Giả C không phát hiện thu giữ gì. Kiểm tra người ngồi sau tên Thào Thị L phát hiện đối tượng đang ngậm trong miệng một gói nilon màu xanh, bên trong có 07 cục chất bột màu trắng đục, dạng nén nghi là ma túy. Qua đấu tranh hai đối tượng khai nhận: Vào khoảng 11 giờ cùng ngày, Thào Thị L rủ Sủng Giả C đi tìm mua ma túy về để sử dụng. Sau đó, C đi mượn xe máy biển kiểm soát 27H1 - 0380 của con trai tên Sủng A V rồi chở L đi từ phòng trọ thuộc Tổ 3, thị trấn Đ đi đến khu vực ngã ba thuộc bản C, xã K, huyện Đ. Khi đến khu vực ngã ba bản C, xã K, Thào Thị L đi bộ vào bản gặp một người phụ nữ dân tộc Mông hỏi mua được 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Thào Thị L đi ra chỗ Sủng Giả C đứng đợi nói đã mua được rồi, C liền điều khiển xe máy chở L quay về, khi đến khu vực thuộc Tổ 2, thị trấn Đ thì gặp tổ công tác Công an thị trấn Đ bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Vật chứng vụ án: thu giữ 01 gói nilon màu xanh bên trong có 07 cục chất bột màu trắng đục; 01 chiếc xe máy HONDA WIN 100, màu đen, biển kiểm soát 27H1 – 0380 và 01 chiếc điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu FPT.
Tại biên bản mở niêm phong hồi 17 giờ 40 phút ngày 17/12/2019 xác định khối lượng đối với vật chứng thu giữ của Thào Thị L và Sủng Giả C xác định: 07 cục chất bột màu trắng đục dạng nén, có tổng khối lượng là 0,74 gam, trích 0,16 gam gửi giám định;
Tại bản kết luận định số 14/GĐ-PC09 ngày 23/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của Thào Thị L và Sủng Giả C là ma túy, loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy quy định tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra công an huyện Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng số 08/QĐ và số 12/QĐ ngày 20/02/2020 trả lại 01 chiếc xe máy HONDA WIN 100, màu đen, biển kiểm soát 27H1 – 0380 và 01 chiếc điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu FPT cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Sủng A V, sinh năm: 1994, trú tại Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Đối với người phụ nữ dân tộc Mông theo lời khai của bị cáo Thào Thị L là người đã bán Heroine cho bị cáo do bị cáo không biết tên, tuổi người này ở đâu nên cơ quan CSĐT không có thông tin điều tra, xác minh làm rõ được, do đó không đề cập xử lý trong vụ án.
Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS-ĐBĐ ngày 05/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố các bị cáo Thào Thị L, Sủng Giả C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Xử phạt bị cáo Thào Thị L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm. Bị cáo Sủng Giả C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định;
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo;
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của các bị cáo Thào Thị L, Sủng Giả C thấy rằng. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Các bị cáo Thào Thị L và Sủng Giả C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; biết rõ tác hại của chất ma túy và sự nghiêm cấm của pháp luật liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Nhưng vào ngày 17/12/2019 các bị cáo vẫn bàn bạc cùng nhau đi mua 0,74 gam Heroine về sử dụng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng; xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự xã hội. Do đó đã cấu thành tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố.
. Xét tính chất, vai trò trách nhiệm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:
Trong vụ án các bị cáo Thào Thị L và Sủng Giả C khi thực hiện tội phạm mỗi bị cáo có vai trò trách nhiệm khác nhau trong đó bị cáo Thào Thị L là người khởi xướng, chuẩn bị tiền; bị cáo Sủng Giả C đi mượn phương tiện và chở bị cáo L đi tìm mua ma túy. Tuy nhiên hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là vợ chồng đều nghiện ma túy, số tiền đi mua ma túy là tài sản chung của hai vợ chồng và các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm cho nên Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự như sau về hành vi tàng trữ 0,74 gam Heroine.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân của các bị cáo thấy rằng, bản thân các bị cáo đều sinh ra và lớn lên tại vùng sâu, vùng xa, ở nhà lao động, sản xuất cùng gia đình; các bị cáo có mối quan hệ vợ chồng nhưng không làm tròn trách nhiệm của người cha, người mẹ, không làm gương cho con cái noi theo mà nghiện ma túy trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Bản thân, bị cáo Sủng Giả C đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt 26 tháng tù về tội " Vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy" tuy được giáo dục cải tạo nhưng vẫn không tiến bộ.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhằm giáo dục cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, thì ngoài hình phạt chính Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy hoàn cảnh gia đình của các bị cáo chỉ phụ thuộc vào nông nghiệp; các bị cáo đều nghiện ma túy, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên không có khả năng thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
Đối với 0,58 gam Heroine còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy theo Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hội đồng xét xử chấp nhận việc cơ quan CSĐT công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu sau: Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 08/QĐ và số 12/QĐ ngày 20/02/2020 trả lại 01 chiếc xe máy HONDA WIN 100, màu đen, biển kiểm soát 27H1 – 0380 và 01 chiếc điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu FPT cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Sủng A V, sinh năm: 1994, trú tại Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Vì quá trình điều tra đã xác minh, làm rõ Anh Sủng A V không biết việc bị cáo Sủng Giả C mượn xe để đi mua ma túy và bị cáo C đã mượn điện thoại của Sủng A V để xem giờ, không sử dụng vào việc pham tội, nên cần chấp nhận.
. Đối với người phụ nữ dân tộc Mông theo lời khai của bị cáo Thào Thị L là người đã bán Heroine cho bị cáo do bị cáo không biết tên, tuổi cụ thể của người này ở đâu nên cơ quan CSĐT không có thông tin điều tra, xác minh làm rõ được, do đó không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử hôm nay các bị cáo không khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi và các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí: Tại phiên tòa các bị cáo xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm vì hoàn cảnh gia đình khó khăn và sinh sống tại vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và bản thân các bị cáo thuộc hộ nghèo có giấy xác nhận số 440/GCN-HN ngày 22/02/2019. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, cần chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 106; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.
1. Tuyên bố các bị cáo Thào Thị L ( tên gọi khác: không);, Sủng Giả C ( tên gọi khác: Sùng A C) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Thào Thị L 01 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (17/12/2019).
- Xử phạt bị cáo Sủng Giả C 01 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (17/12/2019).
2. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,58 gam Heroine (đã trừ giám định).
Vật chứng trên được niêm phong theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 30 phút ngày 06/3/2020 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Thào Thị L, Sủng Giả C.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/4/2020).
| Nơi nhận: - Các Bị cáo; - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan điều tra Công an huyện Đ; - Cơ quan THAHS huyện Đ; - Nhà tạm giữ CA huyện Đ; - Trại tạm giam; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Chi cục THADS huyện Đ ; - TAND tỉnh Điện Biên; - HS THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Nga |