- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Quang Hợp và đồng phạm về tội Giữ người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 (áp dụng đối với bị cáo Dƣơng Quang H);
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 16/2020/HS-ST Ngày 11- 02 -2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Dƣơng Thị Bạn.
Ông Nguyễn Đức Nhuận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Từ Minh Toàn – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chi n Th ng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 347/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2019 theo Quy t định đƣa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2020 và Quy t định hoãn phiên tòa 05/2020/HSST-QĐ ngày 17/01/2020 đối với các bị cáo:
1. Dƣơng Quang H, sinh năm 1986 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cƣ trú: Xóm 4, xã Ân H, huyện K, tỉnh Ninh Bình; tạm trú: Chung cƣ K3, khu nhà ở A, khu dân cƣ V, Khu phố 4, phƣờng A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Văn H và bà Vũ Thị Thúy H; bị cáo có 01 ngƣời con sinh năm 2008; tiền án: Bản án số 44/2018/HS-ST ngày 03/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội Cho vay lãi nặng; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 115/2012/HS-ST ngày 09/11/2012 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù, cho hƣởng án treo về tội Lừa đảo chi m đoạt tài sản; ngày 19/7/2016 bị Công an huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thƣơng tích; bị cáo bị b t, tạm giữ, tạm giam ngày 10/01/2019.
2. Đỗ Đức V, sinh năm 1994 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cƣ trú: Thôn Q, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: Chung cƣ K3, khu nhà ở A, khu dân cƣ V, Khu phố 4, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đức T và bà Đặng Thị O; tiền án: Bản án số 92/2012/HS-ST ngày 10/7/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 05 năm tù về tội Cƣớp tài sản và 09 tháng tù về tội Cƣớp giật tài sản, tổng hợp hình phạt là 05 năm 09 tháng tù; tiền sự: Không; bị cáo bị b t, tạm giữ, tạm giam ngày 10/01/2019.
3. Dƣơng Văn Đ, sinh năm 1991 tại tỉnh Tuyên Quang; nơi cƣ trú: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Văn T và bà Phạm Thị H; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị T và 02 ngƣời con; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị b t, tạm giữ, tạm giam ngày 10/01/2019.
4. Nguyễn Chu D, sinh năm 1987 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cƣ trú: Xóm 8, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; tạm trú: 158/1 Khu phố 1, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phi C và bà Ninh Thị N; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Mai P và 01 ngƣời con sinh năm 2010; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị b t, tạm giữ, tạm giam ngày 07/6/2019.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Quang H – Luật sƣ Văn phòng Luật sƣ H, thuộc Đoàn Luật sƣ Thành phố Hà Nội, là ngƣời bào chữa cho các bị cáo Dƣơng Quang H, Đỗ Đức V, Dƣơng Văn Đ. V ng mặt
Bị hại:
- Ông Lê Hữu N, sinh năm 1973, nơi cƣ trú: Xóm D, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. V ng mặt
- Ông Phạm Văn L, sinh năm 1981, nơi cƣ trú: Thôn C, xã G, huyện B, tỉnh Lao Cai. V ng mặt- Có đơn xin v ng mặt
- Ông Tống Văn H, sinh năm 1973, nơi cƣ trú: Thôn H, xã G, huyện B, tỉnh Lao Cai. V ng mặt- Có đơn xin v ng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hà Hữu Q, sinh năm 1983, nơi cƣ trú: Xóm 3, xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình.V ng mặt
- Ông Dƣơng Văn H, sinh năm 1989, nơi cƣ trú: Xóm 4, xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Có mặt
- Bà Lƣơng Thị Tố G, sinh năm 1994, nơi cƣ trú: Tổ 11, Khu phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt
Người làm chứng:
- Ông Lê Hữu Đức A, sinh năm 1997. V ng mặt
- Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1995. V ng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm t t nhƣ sau:
Do cần tiền để đánh bạc với hình thức xóc đĩa tại khu vực huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng nên Phạm Văn L cùng với Tống Văn H liên hệ với anh Lê Hữu N để tìm ngƣời bỏ vốn cho L chơi và thỏa thuận n u th ng sẽ chia tỷ lệ 50/50 và thua thì L sẽ hoàn lại tiền vốn. Do vậy, Năm liên lạc với Nguyễn Chu D thì đƣợc D đồng ý và bỏ ra số tiền 300.000.000 đồng để cho mƣợn. Lúc này, D chỉ có số tiền 200.000.000 đồng nên D rủ Dƣơng Quang H cùng hùn số tiền 100.000.000 đồng để cho L mƣợn tham gia đánh bạc nhƣ đã bàn bạc với N thì đƣợc H đồng ý.
Nhƣ đã hẹn từ trƣớc, khoảng 12 giờ 00 phút ngày 08/01/2019, Nguyễn Chu D điều khiển xe ô tô bán tải màu tr ng mang biển số 47C....(các số còn lại không rõ) chở Dƣơng Quang H, Đỗ Đức V và 02 (hai) đối tƣợng tên Phong và Đông (chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch) đ n khu vực huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng để gặp N, L và đối tƣợng Việt (bạn của L, chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch). Sau khi thống nhất việc đánh bạc trên, khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, D, H, L và Việt đ n một xới bạc (không rõ địa chỉ) thuộc địa bàn huyện Lâm Hà để chơi. Quá trình chơi, do thua h t số tiền 300.000.000 đồng nên tất cả ra về. Theo thỏa thuận thì N và L phải trả lại số tiền trên cho D, H nhƣng họ không có tiền để trả. Đ n khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, H và D nghĩ đã bị L, N, Việt lừa đánh bạc bịp nên đã điện thoại cho N, L đ n thị trấn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng để gặp nói chuyện. D điều khiển xe ô tô chở H, V cùng đối tƣợng Đông, Phong đ n gặp N, L tại nơi đã hẹn nhƣ trên. Quá trình nói chuyện thì N, L nói chƣa có tiền để trả lại cho H và D, nghe nói vậy thì H liền ném 01 bìa túi giấy cạc tông bên trong có đựng 02 cây dũ 3 khúc bằng kim loại màu đen; 01 cây dao tự ch bằng kim loại dài 80cm, có bao bằng da màu đen; 01 cây dao tự ch bằng kim loại dài 60cm, có bao bằng da màu nâu; 01 cây dao tự ch bằng kim loại dài 31,5cm, có cán bằng gỗ; 01 cây dao tự ch bằng kim loại dài 49cm, có cán bằng kim loại màu tr ng xuống đất và nói: “Mày không trả tiền cho tao tao chém ch t mẹ mày”. Sau đó, H, D, V cùng đối tƣợng Phong, Đông yêu cầu N, L đƣa lên xe ô tô đi đ n nhà ngƣời quen của H ở huyện Lâm Hà, Lâm Đồng để ăn cơm thì H có lấy 01 cây súng tự ch bằng kim loại màu tr ng, kiểu dáng Rulo, có ổ quay, trên thân súng có ký tự 17Q7150 chỉ vào bên hông phải của H và nói: “Mày trả tiền cho tao” rồi cất súng vào trong túi xách bằng da màu nâu. H ti p tục hỏi L: “Còn một ngƣời nữa đi cùng mày đang ở đâu ?” L nói: “Đang ở nhà nghỉ Hiền Lƣơng” nên H kêu đối tƣợng Phong, Đông thuê xe Taxi đ n nhà nghỉ Hiền Lƣơng đƣa Tống Văn H lên xe Taxi chở đ n nhà ngƣời quen của Hợp ở huyện Lâm Hà ăn cơm, sau đó đi thuê nhà nghỉ để ngủ. Đ n khoảng 12 giờ 00 phút ngày 09/01/2019, L, N và H đƣợc H, D, V cùng đối tƣợng Đông, Phong đƣa về nhà của Hợp tại số K3.06.11 Nhà ở an sinh xã hội, thuộc khu dân cƣ Việt Sing, khu phố 4, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để canh giữ, còn Du và đối tƣợng Phong, Đông ra về. Sau đó, Du liên lạc với Vƣợng và căn dặn không cho N, L, H bỏ trốn và để họ liên lạc với gia đình chuyển tiền trả nợ xong mới cho về. D dùng điện thoại nh n tin cho V với nội dung: “Coi cẩn thận bọn nó trốn mất”. Lúc này, V nhờ Đ hỗ trợ việc canh giữ L, N, H thì Đ đồng ý. Tại nhà của H có 01 cửa ra vào, cửa bằng s t và có ổ khóa nên V, Đ khóa cửa lại không cho L, N và H đi ra ngoài, đồng thời thay phiên nhau canh giữ theo yêu cầu của H và D. Quá trình giữ L, N, H thì nhóm của D, H yêu cầu L, N và H liên lạc về gia đình để chuyển tiền trả cho D và H, khi nào trả đủ tiền thì mới cho về. Lúc này, ông Năm đã liên lạc với con trai tên là Lê Hữu Đức A cho bi t về việc đang bị nhóm của D, H b t giữ tại địa điểm trên. Đ n khoảng 15 giờ 10 phút ngày 10/01/2019, anh Đức A đã đ n Công an phƣờng An Phú trình báo sự việc trên. Nhận đƣợc tin báo, Công an phƣờng An Phú ti n hành kiểm tra hành chính tại nhà của Dƣơng Quang H địa chỉ trên và phát hiện b t quả tang H, Đ, V có hành vi giữ ngƣời trái pháp luật nên đã lập biên bản và mời tất cả về trụ sở để làm việc, tại đây H, V, Đ đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Ngày 18/01/2019, D đã đ n Công an thị xã Thuận An để đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội nhƣ đã nêu trên.
Trên cơ sở các tài liệu điều tra thu thập đƣợc, ngày 19/01/2019, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng ra Quy t định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với các bị can Dƣơng Quang H, Đỗ Đức V, Dƣơng Văn Đ. Đ n ngày 03/06/2019, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng ti p tục khởi tố bị can Nguyễn Chu D cùng về tội Giữ ngƣời trái pháp luật để điều tra.
Cáo trạng số 10/CT-VKS-TA ngày 19/12/2019 của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Dƣơng Quang H, Nguyễn Chu D, Đỗ Đức V, Dƣơng Văn Đ về tội Giữ ngƣời trái pháp luật theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quy t định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định:
Trong vụ án có đồng phạm nhƣng mang tính giản đơn, trong đó bị cáo H, bị cáo V có nhân thân xấu, là ngƣời có tiền án nên tính chất nguy hiểm cho xã hội của bị cáo H, bị cáo V cao hơn các bị cáo khác.
Về tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo D, bị cáo Đ phạm tội không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo H, bị cáo V phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm là tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Du có cha và ông nội là ngƣời có công với Nhà nƣớc, sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Kiểm sát viên đề nghị:
Xử phạt bị cáo H mức án từ 02 năm 06 tháng đ n 03 năm tù, tổng hợp hình phạt 02 tháng 10 ngày tù quy đổi từ hình phạt cải tạo không giam giữ thành phạt tù có thời hạn theo Bản án số 44/2018/HS-ST ngày 03/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận buộc bị cáo phải chấp hành chung hai bản án là từ 02 năm 08 tháng 10 ngày đ n 03 năm 02 tháng 10 ngày tù.
Xử phạt bị cáo V mức án từ 02 năm 03 tháng đ n 02 năm 06 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Đ mức án từ 02 năm đ n 02 năm 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm đ n 05 năm.
Xử phạt bị cáo D mức án từ 02 năm đ n 02 năm 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm đ n 05 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị giải quy t.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 khẩu súng kiểu dáng Rulo; 30 viên đạn đầu chì, vỏ bằng đồng; 02 (hai) cây dũ 3 khúc bằng kim loại màu đen; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 80cm, có bao bằng da màu đen; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 72cm, có cán bằng gỗ; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 60cm, có bao bằng da màu nâu; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 31,5cm, có cán bằng gỗ; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 49cm, có cán bằng kim loại màu tr ng; 01 (một) giỏ xách bằng da màu nâu; 01 (một) giỏ xách bằng da màu đen; 01 (một) cái đĩa bằng sứ màu tr ng; 01 (một) con dấu in ký tự VOS Việt Nam; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Sacombank mang số 9704031082702783 thu của Hợp (đã bị hƣ hỏng); 01 (một) giỏ xách bằng da màu nâu (có kẻ ô vuông); 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Sacombank đứng tên Lƣơng Thị Tố Giang (đã bị hƣ hỏng).
Đề nghị tịch sung ngân sách nhà nƣớc: Số tiền 10.000 đồng thu giữ của bị cáo Hợp; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu Gold thu giữ của bị cáo Vƣợng.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội nhƣ nội dung cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng của các bị cáo trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án: Các Bị cáo đã nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo D, bị cáo Đ xin đƣợc hƣởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của cơ quan ti n hành tố tụng, ngƣời ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định của cơ quan ti n hành tố tụng, ngƣời ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Ngƣời bào chữa cho các bị cáo Dƣơng Quang H, Đỗ Đức V, Dƣơng Văn Đ đã đƣợc triệu hợp lệ đ n lần thứ hai nhƣng v ng mặt, tại phiên các bị cáo H, Đ, V đồng ý xét xử v ng ngƣời bào chữa nên Tòa án xét xử v ng mặt ngƣời bào chữa.
Tại phiên tòa các bị cáo Dƣơng Quang H, Nguyễn Chu D, Đỗ Đức V, Dƣơng Văn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo thống nhất với nhau, phù hợp với các tình ti t nhƣ nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng và các tài liệc khác có trong hờ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Do nghi ngờ các bị hại Lê Hữu N, Phạm Văn L, Tống Văn H và đối tƣợng tên Việt lừa đánh bạc bịp làm cho H, D mất số tiền 300.000.000 đồng nên vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 09/01/2019 các bị cáo Dƣơng Quang H, Nguyễn Chu D, Đỗ Đức V đã đƣa L, N và H về nhà của bị cáo H tại số K3.06.11 Nhà ở an sinh xã hội, thuộc khu dân cƣ Việt Sing, Khu phố 4, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để giữ lại khi nào có tiền trả thì thả các bị hại, tại đây bị cáo Dƣơng Văn Đ giúp các bị cáo V, D, H trong việc canh giữ các bị hại. Hành vi của các bị cáo đã thực hiện đủ y u tố cấu thành tội Giữ ngƣời trái pháp luật theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố các bị cáo về tội Giữ ngƣời trái pháp luật theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi các bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền tự do của con ngƣời, ảnh hƣởng an ninh xã hội tại địa phƣơng. Các bị cáo nhận thức rõ việc giữ ngƣời phải do cơ quan và ngƣời có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới đƣợc thực hiện và theo trình tự thủ tục theo luật định. Việc các bị cáo giữ các bị hại là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhƣng vì động cơ cá nhân nên các bị cáo cố ý phạm tội.
Trong vụ án có đồng phạm nhƣng mang tính giản đơn, việc thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất bộc phát nhất thời, cũng chỉ nhằm mục đích để các bị hại trả lại tiền, trong đó: Bị cáo H, bị cáo V có nhân thân xấu, là ngƣời có tiền án nên tính chất nguy hiểm cho xã hội của bị cáo H, bị cáo V cao hơn các bị cáo khác. Tuy nhiên, bị cáo H đã ly hôn vợ và hiện đang nuôi con nhỏ; bị cáo D có nhân tốt, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên khi quy t định hình phạt cũng cần cân nh c áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đ n tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo.
Về tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Chu D, Dƣơng Văn Đ phạm tội không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo Dƣơng Quang H và bị cáo Đỗ Đức V đã có tiền án, chƣa đƣợc xóa án tích, lần này phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm là tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo D có cha đƣợc tặng thƣởng Huy chƣơng chi n sỹ vẻ vang, ông nội đƣợc tặng hƣởng Huân chƣơng kháng chi n, sau khi phạm tội bị cáo D ra đầu thú nên các bị cáo đƣợc hƣởng tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo Nguyễn Chu D, Dƣơng Văn Đ có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có địa chỉ cƣ trú rõ ràng, việc phạm tội mang tính chất bộc phát nhất thời, phạm tội có nhiều tình ti t giảm nhẹ, qua thời hạn tạm giữ, tạm giam đã thể hiện sự ăn năn, hối cải, việc không ti p tục cách ly các bị cáo D, Đ ra ngoài xã hội cũng không gây nguy hiểm nên không cần cách ly các bị cáo mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo D, bị cáo Đ đƣợc hƣởng án treo, tạo điều kiện để các bị cáo tự cải tạo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú giám sát, giáo dục theo quy định pháp luật.
Trả tự do cho bị cáo D, bị cáo Đ tại phiên tòa n u các bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.
Bản án số 44/2018/HS-ST ngày 03/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận đã xử phạt bị cáo Dƣơng Quang H 01 năm cải tạo không giam giữ về tội Cho vay lãi nặng. Bị cáo đã chấp hành đƣợc thời gian cải tạo không giam giữ 05 tháng, thời gian còn lại là 07 tháng cải tạo không giam giữ tƣơng ứng với hình phạt tù có thời hạn là 02 tháng 10 ngày, nên tổng hợp với hình phạt với bản án này buộc bị cáo chấp hành chung cả hai bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Đối với các đối tƣợng tên Phong, Đông có tham gia trong vụ án Giữ ngƣời trái pháp luật, sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì Phong, Đông đã bỏ trốn. Quá trình điều tra không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với lời khai tham gia đánh bạc của các bị hại xảy ra trên địa bàn huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, nhƣng không xác định đƣợc địa điểm, tang vật, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã thông tin về tội phạm cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng để ti p nhận điều tra theo thẩm quyền.
Đối hành vi tàng trữ 01 cây súng tự ch bằng kim loại màu tr ng, kiểu dáng Rulo, có ổ quay; 01 cây súng bằng kim loại màu tr ng, kiểu dáng Rulo, có ổ quay, trên thân súng có ký tự 17Q7150; 30 viên đạn đầu chì, vỏ bằng đồng của Dƣơng Quang H, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An đã ra Quy t định trƣng cầu giám định tại Phân viện khoa học hình sự tại TP Hồ Chí Minh và có K t luận giám định số 61/C09B k t luận: 02 (hai) khẩu súng gửi giám định là vũ khí có tính năng, tác dụng tƣơng tự vũ khí quân dụng; 30 (ba mƣơi) viên đạn đầu chì, vỏ bằng đồng gửi giám định là đạn sử dụng cho hai khẩu súng nêu trên và các loại súng thể thao, súng quân dụng cỡ nòng 5,6mm. Do không phải là vũ khí quân dụng nên Công an thị xã Thuận An đã xử phạt vi phạm hành chính Dƣơng Quang H là đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet, kiểu dáng Cruze, màu đen, mang biển số 51G-029.62, số máy: 8D4173120264, số khung: 69EHH94969 thu giữ của bị cáo H. Quá trình điều tra xác định chi c xe trên là của ông Hà Hữu Q đứng tên chủ sở hữu xe. Ông Q có cho H mƣợn xe trên để đi công việc và hoàn toàn không bi t H sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã giao trả xe cho ông Q là có căn cứ.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Novo, màu đen - tr ng, mang biển số 35M1-0341, số máy 144499, số khung Y144499 thu giữ của bị cáo H khi khám xét nơi ở của H. Quá trình điều tra xác định chi c xe trên là của ông Dƣơng Văn H đứng tên chủ sở hữu xe. Bị cáo H không sử dụng chi c xe trên vào mục đích phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã giao trả tài sản trên cho ông H là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 (một) cây súng tự ch bằng kim loại màu tr ng (đã rỉ sét), kiểu dáng Rulo, có ổ quay; 01 (một) cây súng bằng kim loại màu tr ng, kiểu dáng Rulo, có ổ quay, trên thân súng có ký tự 17Q7150; 30 (ba mƣơi) viên đạn đầu chì, vỏ bằng đồng thu giữ của H. Các vật chứng này là hàng cấm lƣu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối 02 (hai) cây dũ 3 khúc bằng kim loại màu đen; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 80cm, có bao bằng da màu đen; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 72cm, có cán bằng gỗ; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 60cm, có bao bằng da màu nâu; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 31,5cm, có cán bằng gỗ; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 49cm, có cán bằng kim loại màu tr ng thu giữ của bị cáo Hợp, các vật chứng này không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) giỏ xách bằng da màu nâu; 01 (một) giỏ xách bằng da màu đen thu giữ của bị cáo H. Quá trình điều tra xác định đây là những giỏ xách bị cáo H sử dụng để cất giấu súng và đạn, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) cái đĩa bằng sứ màu tr ng; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ (mƣời ngàn đồng) đƣợc cuộn tròn thu giữ của bị cáo H. Quá trình điều tra xác định đây là công cụ để bị cáo sử dụng ma túy, nên tịch thu, tiêu hủy 01 (một) cái đĩa bằng sứ màu tr ng và tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc số tiền 10.000 đồng.
Đối với 01 (một) con dấu in ký tự VOS Việt Nam thu giữ khi khám xét nhà bị cáo H. Quá trình điều tra xác định con dấu này H đã nhặt đƣợc tại bãi xe của khu nhà ở xã hội Becamex, địa chỉ: Khu phố 4, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Sacombank mang số 9704031082702783 thu giữ của bị cáo Hợp đã bị hƣ, không sử dụng đƣợc, bị cáo H không yêu cầu nhận lại, nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 giỏ xách bằng da màu nâu (có kẻ ô vuông) và 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Sacombank mang tên Lƣơng Thị Tố G. Quá trình điều tra bà G trình bày thẻ ATM trên đã bị hƣ, không sử dụng đƣợc và bà G cũng không yêu cầu nhận lại các vật chứng này, nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu Gold thu giữ của bị cáo V, bị cáo có sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
Đối với chi c điện thoại di động hiệu SAMSUNG, mà bị cáo Nguyễn Chu D đã sử dụng làm phƣơng tiện liên lạc với bị cáo V để thực hiện hành vi phạm tội, sau đó bị cáo đã đem bán chi c điện thoại trên tại một tiệm điện thoại tại khu vực huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh hiện không thu hồi đƣợc nên không đề cập xử lý.
Đối với chi c xe ô tô bán tải màu tr ng mà bị cáo D và sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội, xe do D mƣợn của một ngƣời bạn tên Lăng (không rõ tên, địa chỉ), sau đó D đã trả xe lại cho ngƣời này, hiện không thu hồi đƣợc nên không đề cập xử lý.
Đối với số giấy tờ, sổ sách thể hiện việc cho vay tiền đƣợc thu giữ tại nhà của bị cáo H. Quá trình điều tra, bị cáo Hợp khai nhận là của đối tƣợng Đông (không rõ nhân thân, lai lịch) đem đ n gửi nhờ ở nhà của bị cáo, sau đó đối tƣợng Đông đã bỏ đi đâu không rõ. Do các giấy tờ, sổ sách có nội dung cho vay tiền đƣợc thu giữ không thể hiện cụ thể các thông tin về nơi cƣ trú của ngƣời vay và ngƣời cho vay nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định đƣợc nhân thân lai lịch của ngƣời cho vay và ngƣời vay tiền để xác minh xử lý, nên đƣợc thống kê lƣu vào hồ sơ vụ án.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm đ khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 (áp dụng đối với bị cáo Dƣơng Quang H);
- Điểm đ khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 (áp dụng đối với bị cáo Đỗ Đức V);
- Điểm đ khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 (áp dụng đối với các bị cáo Nguyễn Chu D, Dƣơng Văn Đ);
- Khoản 4 Điều 328; Điều 109, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Quang H, Đỗ Đức V, Dƣơng Văn Đ, Nguyễn Chu D phạm tội Giữ ngƣời trái pháp luật.
Xử phạt bị cáo Dƣơng Quang H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp hình phạt 02 tháng 10 ngày tù (quy đổi từ 07 tháng cải tạo không giam giữ) về tội Cho vay lãi nặng theo Bản án số 44/2018/HS-ST ngày 03/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, buộc bị cáo phải chấp hành chung hai bản án là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng 10 (mƣời) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2019.
Xử phạt bị cáo Đỗ Đức V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2019.
Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn Đ 02 (hai) năm tù, cho hƣởng án treo thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 11/02/2020. Giao bị cáo Đ cho Ủy ban nhân dân xã Thành Long, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì Ủy ban nhân dân xã Thành Long phải thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang để ti n hành thủ tục theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chu D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, cho hƣởng án treo thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tính từ ngày tuyên án là ngày 11/02/2020. Giao bị cáo D cho Ủy ban nhân dân phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì Ủy ban nhân dân phƣờng An Phú phải thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự thị xã Thuận An để ti n hành thủ tục theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quy t định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
Trả tự do cho các bị cáo Nguyễn Chu D, Dƣơng Văn Đ tại phiên tòa n u các bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây súng tự ch bằng kim loại màu tr ng (đã rỉ sét), kiểu dáng Rulo, có ổ quay; 01 (một) cây súng bằng kim loại màu tr ng, kiểu dáng Rulo, có ổ quay, trên thân súng có ký tự 17Q7150; 30 (ba mƣơi) viên đạn đầu chì, vỏ bằng đồng; 02 (hai) cây dũ 3 khúc bằng kim loại màu đen; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 80cm, có bao bằng da màu đen; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 31,5cm, có cán bằng gỗ; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 60cm, có bao bằng da màu nâu; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 49cm, có cán bằng kim loại màu tr ng; 01 (một) cây dao tự ch bằng kim loại dài 72cm, có cán bằng gỗ; 01 (một) giỏ xách bằng da màu nâu; 01 (một) giỏ xách bằng da màu đen; 01 (một) cái đĩa bằng sứ màu tr ng; 01 (một) con dấu in ký tự VOS Việt Nam; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Sacombank mang số 9704031082702783 thu của Hợp (đã bị hƣ hỏng); 01 (một) giỏ xách bằng da màu nâu (có kẻ ô vuông); 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Sacombank đứng tên Lƣơng Thị Tố Giang (đã bị hƣ hỏng).
Tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc: Số tiền 10.000VNĐ (mƣời ngàn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu vàng Gold Model A1688.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2020, ngày 19/12/2019 và ủy nhiệm chi ngày 19/12/2019)
3. Về án phí: Các bị cáo các bị cáo Dƣơng Quang H, Đỗ Đức V, Dƣơng Văn Đ, Nguyễn Chu D mỗi ngƣời phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngƣời v ng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao hoặc niêm y t./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THA thị xã Thuận An; - CQCSĐT Công an thị xã Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thị xã Thuận An; - UBND phƣờng An Phú, thị xã Thuận An; - Bị cáo; - Bị hại; - Ngƣời bào chữa; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Sỹ Trứ |