vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 27/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Trí Toàn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 195/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01. Trả lại cho bị cáo Đinh Trí Toàn 01 đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Ch tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Trí Toàn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HS-ST
Ngày 27- 4- 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Phên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bá Đoàn.

2. Ông Nguyễn Xuân Sơn.

- Thư ký Phên tòa: Bà Trần Thị Minh Thúy - Thư ký Tòa án án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia Phên tòa: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2020/HSST ngày 13 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2020 và Thông báo mở lại Phên tòa số 11/2020/TB-TA ngày 23 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1991 tại tỉnh N; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố L, thị trấn Q, huyện Gi, tỉnh N; nơi cư trú: Thôn N1, xã Đ, huyện K, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Tr và bà Phạm Thị S; có vợ và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ ngày 15/12/2019, tạm giam ngày 21/12/2019. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Đại Vương - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Chu Văn L1, sinh năm 1986; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Dương Văn V, sinh năm 1989; trú tại: Thôn D, xã Đ, huyện K; tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Anh Lại Văn Th, sinh năm 1981; trú tại: Thôn 3, xã Th1, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Phên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15 tháng 12 năm 2019, Nguyễn Văn Ch sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam đang ở nhà thì đối tượng tên là Ph ở thôn D, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam (là bạn nghiện mới quen của Ch) gọi điện thoại cho Ch nói: "Lên đây anh cho ít về chơi". Ch hiểu ý nên nói: "Vâng". Sau đó Ch điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Jupiter BKS 90B1-98775 đi từ nhà đến thôn D, xã Đ, huyện K thì gặp Ph. Ph đưa Ch 01 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy báo có chữ mực in bên trong chứa chất bột màu trắng đục nói: "Cầm về mà chơi", Ch biết đó là gói ma túy nên cầm và cất vào túi áo khoác rồi điều khiển xe mô tô về tìm chỗ sử dụng. Khi về đến thôn N, xã Đ, huyện K thì bị công an huyện K phát hiện, bắt giữ quả tang. Thu giữ tại túi áo khoác bên trái phía trước đang mặc của Nguyễn Văn Ch 01 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy báo cũ có chữ mực in, bên trong chứa chất bột màu trắng đục, niêm phong trong phong bì kí hiệu QT01. Thu trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Jupiter BKS 90B1-98775 do Nguyễn Văn Ch đang điều khiển 01 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy màu trắng, trong là lớp giấy màu vàng, bên trong lớp giấy màu vàng là chất bột màu trắng đục, niêm phong ký hiệu QT02. Thu trong túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Văn Ch 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng trắng, niêm phong kí hiệu QT03 và 01 xi lanh loại 03 ml/cc, 01 lọ nước cất Novocain chưa qua sử dụng được niêm phong, ký hiệu QT04. Ngoài ra còn tạm giữ của Nguyễn Văn Ch 01 xe mô tô nhãn hiệu Jupiter BKS 90B1-98775. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Ch tại thôn N, xã Đ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam không phát hiện thu giữ được gì.

Tại bản kết luận giám định số 222/PC09-MT ngày 18/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,123gam, loại Heroine. Mẫu bột màu trắng dạng cụ trong phong bì ký hiệu QT02 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,060 gam loại Heroine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ: 0,183gam loại Heroine.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: Nguyễn Văn Ch khai nhận do người đàn ông tên Ph ở thôn D, xã Đ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đưa cho. Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng đã xác minh xác định có đối tượng Hồ Văn Ph, sinh năm 1973, trú tại thôn D, xã Đ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và nhiều lần triệu tập Hồ Văn Ph để đấu tranh làm rõ nhưng Ph không có mặt ở địa phương. Ngoài lời khai của bị can, Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng chưa thu thập được tài liệu, chứng cứ nào xác định Hồ Văn Ph đưa chất ma túy cho Nguyễn Văn Ch nên tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ hành vi đưa chất ma túy của đối tượng Hồ Văn Ph để xử lý sau.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Jupiter BKS 90B1-98775 là tài sản hợp pháp của anh Chu Văn L1. Anh L1 không biết Nguyễn Văn Ch mượn xe để dùng vào việc phạm tội nên đã trả lại chiếc xe trên cho anh L1.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSKB ngày 10/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Văn Ch về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn Ch từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 15/12/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy hai phong bì niêm phong nguyên vẹn số 222/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01 và mẫu vật hoàn trả QT02; một lọ nước cất Novocain chưa qua sử dụng; một xi lanh nhựa 3ml/cc chưa qua sử dụng. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng trắng. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát, ý kiến của người bào chữa, bị cáo không bổ sung, tranh luận gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn Ch thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/12/2019, tại thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam. Nguyễn Văn Ch sinh năm 1991, trú tại Thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,123gam tại túi áo khoác bên trái phía trước của Nguyễn Văn Ch và 01 gói Heroine có khối lượng 0,060gam tại cốp xe mô tô nhãn hiệu Jupiter BKS 90B1-98775 do Nguyễn Văn Ch đang điều khiển. Tổng khối lượng ma túy cất giữ là 0,183gam với mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Kim Bảng bắt quả tang. Hành vi đó của Nguyễn Văn Ch đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chất ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm.

Xét về mặt chủ quan của tội phạm, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý biết rõ hành vi cất giữ 0,183gam Heroine mục đích để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện. Do đó cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của Viện kiểm sát, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và phòng chống tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. Quá trình điều tra và tại Phên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng bị cáo không phải chịu.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng...hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Nguyễn Văn Ch khai nhận do người đàn ông tên Ph ở thôn D, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam đưa cho. Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng đã xác minh nhưng chưa thu thập được tài liệu, chứng cứ nào xác định Hồ Văn Ph đưa chất ma túy cho Nguyễn Văn Ch nên tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ hành vi đưa chất ma túy của đối tượng Hồ Văn Ph để xử lý sau là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Gồm 02 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 222/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01 và mẫu vật hoàn trả QT02 là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 lọ nước cất Novocain chưa qua sử dụng và 01 xi lanh nhựa 3ml/cc là vật chứng không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động màu vàng trắng nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn Ch sử dụng liên lạc để nhận ma túy nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 15/12/2019.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 222/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01, QT02; 01 lọ nước cất Novocain chưa qua sử dụng và 01 xi lanh nhựa loại 3ml/cc. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động màu vàng trắng nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Kim Bảng với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 10/2/2020).

3. Án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Ch phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Hà Nam (để b/c);

- VKSND tỉnh Hà Nam;

Thẩm phán - Chủ tọa Phên tòa

- VKSND huyện Kim Bảng;

- Công an huyện Kim Bảng;

- Chi cục T.H.A dân sự huyện Kim Bảng;

- Bị cáo;

- Người bào chữa;

- Người có QLNVLQ;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Bùi Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa Phên tòa

Bùi Thị Nguyệt TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN KIM BẢNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HÀ NAM Bản án số: 07/2020/HS-ST Ngày 14 - 02 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Phên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

2. Bà Nguyễn Thị Khánh.

- Thư ký Phên tòa: Ông Trần Văn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia Phên tòa: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 2 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo Đinh Trí Toàn, sinh năm 1973, tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn Khuyến Công, xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đinh Trí Liên (Đã chết) và bà Lê Thị Cúc (Đã chết); có vợ Nguyễn Thị Hương và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ ngày 13/11/2019, tạm giam ngày 19/11/2019. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Đại Vương - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1977. Trú tại: Thôn Khuyến Công, xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Lê Văn Công, sinh năm 1985. Trú tại: Thôn Phương Đàn, xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn Hiệp, sinh năm 1966. Trú tại: Thôn Đồng Tân, xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Phên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 13/11/2019, Đinh Trí Toàn, sinh năm 1973, trú tại thôn Khuyến Công, xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đang ở nhà thì có một thanh niên tên Tùng ở xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (theo lời khai của Toàn) đến nói với Toàn: “Bên này có người bán ma túy, anh có mua không”, Toàn hiểu ý nên trả lời: “Ừ, để anh chở em đi”. Sau đó Toàn điều khiển xe mô tô dán nhãn Dream II BKS 90H8 - 4969 chở Tùng đến khu vực xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng. Toàn đưa cho Tùng 400.000đồng, Tùng cầm tiền đi khoảng 15 phút thì quay lại đưa Toàn 04 gói nhỏ bên ngoài đều bọc bằng nilon màu trắng và nói: “Em vào đây chơi” rồi bỏ đi. Toàn cầm ma túy ở tay phải rồi điều khiển xe mô tô về đến thôn Thụy Sơn 2, xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam thì bị Công an xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Đinh Trí Toàn 04 gói nhỏ bên ngoài đều bọc bằng nilon màu trắng, bên trong đều chứa các cục chất bột màu trắng đục, niêm phong ký hiệu QT01. Thu tại túi quần soóc bên phải phía trước 02 tờ tiền mệnh giá 500.000đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, niêm phong ký hiệu QT02. Ngoài ra tạm giữ của Đinh Trí Toàn 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream II BKS 90H8 - 4969. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Trí Toàn không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Bản kết luận giám định số 195/PC09-MT ngày 15/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,219 gam, loại Heroine.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Đinh Trí Toàn khai nhận do người thanh niên tên Tùng ở xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mua hộ. Bị can không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, đặc điểm nhận dạng của người tên Tùng nên Công an huyện Kim Bảng không có căn cứ xác minh làm rõ được.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSKB ngày 06/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố Đinh Trí Toàn về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại Phên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Đinh Trí Toàn phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đinh Trí Toàn từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 13/11/2019. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 195/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam. Trả lại cho Đinh Trí Toàn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 1.000.000đồng. Trả lại bà Nguyễn Thị Hương 01 xe mô tô dán nhãn Dream II BKS 90H8-4969 trị giá 8.000.000đồng, sau khi chị Hương phải nộp 4.000.000đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Ngoài ra VKS còn đề nghị về án phí, quyền kháng cáo. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Bị cáo nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát, ý kiến của người bào chữa và không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng ý với quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về phần xử lý vật chứng là chiếc xe mô tô.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Phên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại Phên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Tại Phên tòa và quá trình điều tra bị cáo Đinh Trí Toàn thành khẩn khai báo. Lời khai nhận tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại Phên tòa. Tòa án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 13/11/2019, tại thôn Thụy Sơn 2, xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Đinh Trí Toàn, sinh năm 1973, trú tại thôn Khuyến Công, xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cất giữ trái phép 04 gói Heroine có khối lượng 0,219gam Heroine tại lòng bàn tay phải, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam bắt quả tang. Hành vi đó của Đinh Trí Toàn đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cất giữ trái phép 0,219gam Heroine của mình, mục đích để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bị cáo mà vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chất ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm trong xã hội. Do đó phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội, luôn có ý thức chấp hành chính sách pháp luật đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Khi quyết định hình phạt Tòa án cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy, bị cáo có nhân tốt, thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng bị cáo không phải chịu.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng…hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo là người mắc nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, tài sản trong gia đình chỉ là các đồ dùng sinh hoạt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Bị cáo khai nhận do người thanh niên tên Tùng ở xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mua hộ. Do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, đặc điểm nhận dạng của người tên Tùng nên cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Gồm 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 195/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 1.000.000đồng đã thu giữ là tài sản hợp pháp của bị cáo nhưng không phải là vật chứng nên trả lại cho bị cáo. Đối với 01 xe mô tô dán nhãn Honda Dream BKS 90H8 - 4969 đã được trị giá 8.000.000đồng là tài sản chung của bị cáo với vợ là bà Nguyễn Thị Hương. Song do bà Hương không biết bị cáo sử dụng xe liên quan đến hành vi phạm tội và qua tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nên trả lại cho bà Hương chiếc xe trên, sau khi bà Hương có trách nhiệm nộp 4.000.000đồng (1/2 giá trị chiếc xe là tài sản của bị cáo) để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Trí Toàn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Trí Toàn 24 tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 13/11/2019.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 195/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01. Trả lại cho bị cáo Đinh Trí Toàn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 1.000.000đồng. Trả lại bà Nguyễn Thị Hương 01 xe mô tô dán nhãn Dream II BKS 90H8 - 4969, sau khi bà Hương phải nộp 4.000.000đồng để nộp ngân sách Nhà nước (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Kim Bảng với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 06/01/2020; ủy nhiệm chi ngày 10/01/2020).

3. Án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đinh Trí Toàn phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Hà Nam (để b/c);

- VKSND tỉnh Hà Nam;

Thẩm phán - Chủ tọa Phên tòa

- VKSND huyện Kim Bảng;

- Công an huyện Kim Bảng;

- Chi cục T.H.A dân sự huyện Kim Bảng;

- Bị cáo; Người bào chữa;

- Người có QLNVLQ;

- Lưu hồ sơ.

Bùi Thị Nguyệt

Thẩm phán - Chủ tọa Phên tòa Các Hội thẩm nhân dân

Bùi Thị Nguyệt

Cỡ chữ