vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 14/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thọ B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thọ B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/10/2019. Phạt bổ sung 05 (năm) triệu đồng để sung vào ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thọ B mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thọ B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HS-ST
Ngày 14/02/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Chu Thị Hồng Nhật;

2. Bà Lê Thị Sinh Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2020/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thọ B, sinh ngày 08/4/1954 tại Thái Bình.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá:7/10; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Thọ E và bà Đặng Thị M; có vợ: Trần Thị H và 03 con; nhân thân: Từ tháng 02 năm 1972 đến tháng 6 năm 1976 bị cáo tham gia thanh niên xung phong; Bản án số 31/ST ngày 11/4/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử 08 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/10/2019 đến ngày 22/10/2019 chuyển tạm giam cho đến nay.

* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: Tổ 15, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

* Ngƣời chứng kiến:

- Anh Nguyễn Tiến L, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

- Ông Phạm Đắc Đ, sinh năm 1963.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo có mặt, anh T, anh L, ông Đ đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 16/10/2019 Phạm Thọ B đi xe ôm từ thôn Tống Thỏ Nam, xã Đông Mỹ, thành phố Thái Bình ra khu vực cầu Cống Trắng, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình mua ma túy để sử dụng. Tại đây B gặp và mua của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy giá 150.000 đồng, B cất túi ma túy vào trong túi áo ngực rồi về nhà. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày có Phạm Văn T và Nguyễn Tiến L đến. T vào nhà gặp B hỏi “Có hàng không để em 200.000 đồng”, B hiểu ý T hỏi mua ma túy và sẵn có gói ma túy trong người B nói “Có”. T đưa cho B 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, B nhận tiền cất vào túi áo ngực, đồng thời đưa cho T 01 gói ma túy gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, T nhận gói ma túy thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác kiểm tra người T phát hiện, thu giữ tại túi quần bên phải phía trước T đang mặc 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, niêm phong trong phong bì kí hiệu M, kiểm tra người B thu số tiền 200.000 đồng.

Bản kết luận giám định số 396/KLGĐ-PC09 ngày 17/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật trong phong bì niêm phong kí hiệu M thu giữ của Phạm Văn T là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,0535 gam.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thọ B tại thôn T, xã Đ, thành phố Thái Bình thu giữ, quản lý 01 cân điện tử màu xanh xám có nắp và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II, màu nâu, mang biển số đăng ký 16F1-9036.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như bản cáo trạng đã miêu tả.

Bản cáo trạng số 15/CT-VKSTPTB ngày 14/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Thọ B về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/10/2019.

Phạt bổ sung từ 05 đến 07 triệu đồng để sung quỹ nhà nước.

* Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; 01 cân điện tử màu xanh xám đã cũ.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đồng bị cáo bán ma túy mà có.

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream II màu nâu, biển số 16F1 – 9036 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình tiếp tục xác minh sẽ xử lý sau.

Bị cáo được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại hay có ý kiến gì.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bằng:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang.

- Các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ.

- Bản kết luận giám định số 396/KLGĐ-PC09 ngày 17/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

- Tự khai và biên bản ghi lời khai của người liên quan là anh Phạm Văn T.

- Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến: Anh Nguyễn Tiến L, ông Phạm Đắc Đ.

Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/10/2019, tại nhà của Phạm Thọ B ở thôn T, xã Đ, thành phố Thái Bình, tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Bình bắt quả tang Phạm Thọ B có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine (Hêrôin) có khối lượng 0,0535 gam cho Phạm Văn T lấy 200.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251 Tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự là người có nhân thân xấu. Bản án số 31/ST ngày 11/4/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình bị cáo phải thi hành khoản bồi thường 120.000 đồng cho bà Khổng Thị T, ngày 28/3/2002 Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình ủy thác cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thi hành khoản tiền này nhưng Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng không tiếp nhận và thụ lý. Từ đó đến nay Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình không thi hành khoản tiền này đối với bị cáo. Căn cứ Điều 60 và 70 Bộ luật Hình sự đã hết thời hiệu thi hành bản án và bị cáo đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thời gian tham gia thanh niên xung phong các tình tiết này được giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

- Về hình phạt bổ sung: Mục đích bị cáo mua ma túy để bán kiếm lời, phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Về vật chứng của vụ án:

- Số Hêrôin còn lại sau giám định là 0,0446 gam trong phong bì niêm phong số 396/KLGĐ-PC09 ngày 17/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình thu giữ của bị cáo, đây là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành; 01 cân điện tử màu xanh xám không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 200.000đồng thu giữ của bị cáo là tiền bán ma túy mà có cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 xe mô tô Honda Drem II màu nâu, biển số đăng ký 16F1 - 9036 số khung HA06 - 0003316, số máy HA05E - 2003316, cơ quan Điều tra thu giữ, quản lý của bị cáo. Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình trưng cầu giám định, kết luận: Vị trí đóng hàng chữ, chữ số trên khung xe bị cắt hàn mảng kim loại mới, trên mảng kim loại mới có hàng chữ, chữ số HA06 - 0003316, chữ, chữ số nguyên thủy không đủ điều kiện kết luận, đã tiến hành xác minh chưa xác định chủ sở hữu. Do đó Cơ quan Điều tra Công an thành phố Thái Bình tiếp tục xác minh sẽ xử lý sau.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu vực Cống Trắng, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý.

Các vấn đề khác:

Đối với Phạm Văn T có hành vi mua ma túy của Phạm Thọ B mục đích để sử dụng cho bản thân, do khối lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên cơ quan Điều tra Công an tỉnh Thái Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tùng bằng hình thức cảnh cáo.

Đối với Nguyễn Tiến L là người đi cùng với Phạm Văn T, L không biết T đi mua ma túy, nên cơ quan Điều tra không có hình thức xử lý đối với L.

Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thọ B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thọ B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/10/2019.

Phạt bổ sung 05 (năm) triệu đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

3/ Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin còn lại sau giám định là 0,0446 gam trong phong bì niêm phong số 396/KLGĐ-PC09 ngày 17/10/2019 và 01 cân điện tử màu xanh xám đã cũ.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo.

(Vật chứng của vụ án Công an thành phố Thái Bình đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 14/01/2020).

- Đối với 01 xe mô tô Honda Drem II màu nâu, biển số 16F1 - 9036 số khung HA06 - 0003316, số máy HA05E – 2003316 quản lý của bị cáo, cơ quan Điều tra đã tiến hành xác minh chưa xác định được chủ sở hữu. Cơ quan Điều tra Công an thành phố Thái Bình tiếp tục xác minh sẽ xử lý sau.

4/ Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Cỡ chữ