vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 17/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong số ma túy còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 537/2019/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng. Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu vàng đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 354741/07/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PVD - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HS-ST
Ngày 17-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Điển

Ông Trần Ngọc Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Lệ Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2020/HSST-QĐ ngày 12 tháng 3 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/HSST-QĐ ngày 03 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

PVD, sinh ngày 05 tháng 4 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D và bà E; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 207/QĐ-XPHC ngày 18/10/2016 của Trưởng Công an huyện An Dương, thành phố Hải Phòng về hành vi cố ý gây thương tích (bị cáo chưa thi hành khoản tiền nộp phạt); bị tạm giữ từ ngày 13/8/2019, chuyển tạm giam từ ngày 15/8/2019. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 12 tháng 8 năm 2019, PVD gọi điện thoại cho một người tên F hỏi mua 04 viên ma túy tổng hợp với giá 800.000đồng và thỏa thuận trả trước 500.000đồng, nợ lại 300.000đồng. F đồng ý và hẹn PVD khoảng 17 giờ ngày 13 tháng 8 năm 2019 đến cổng siêu thị G, phường H, quận I, Hải Phòng để giao ma túy. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, PVD điều khiển xe môtô Biển kiểm soát 15B3-41844 đi đến điểm hẹn. Tại điểm hẹn PVD đưa cho F 500.000đồng và được F đưa cho 01 túi nilon bên trong chứa 04 viên ma túy tổng hợp. PVD cất giấu số ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Khoảng 05 phút sau lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

Tại bản Kết luận giám định số 537/KLGĐ ngày 15/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Các viên nén của mẫu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9741gam, là loại MDMA”.

Bản Cáo trạng số 01/CT-VKS-HB ngày 14-01-2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố PVD về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với người đàn ông tên F đã bán ma túy cho PVD, quá trình điều tra không xác định được lai lịch cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục xác minh xử lý sau.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo PVD từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 phong bì thư niêm phong số ma túy còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 537/2019/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng. Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu vàng đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 354741/07/737211/9; IMEI 2: 354742/07/737211/7, đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền 500.000đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo. Đây là tiền cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, mang BKS: 15B3-41844 căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa của bị cáo và mẹ bị cáo đủ cơ sở xác định chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo nên đề nghị trả lại xe môtô cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo PVD thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã truy tố là đúng. Bị cáo PVD có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo PVD khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản khám xét, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 13 tháng 8 năm 2019 tại trước cổng siêu thị G, H, I, Hải Phòng, bị cáo PVD đã có hành vi tàng trữ chất ma túy mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Kết luận giám định số 537/KLGĐ ngày 15/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Các viên nén của mẫu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9741gam, là loại MDMA”. Bị cáo PVD nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên do mục đích để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Bị cáo PVD phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Xét thấy trong vụ án này, bị cáo PVD có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, lượng ma túy qua giám định là 0,9741 gam là loại MDMA. Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo để xem xét khi quyết định hình phạt.

Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những hủy hoại sức khỏe mà còn làm băng hoại về đạo đức con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Việc bài trừ tận gốc tệ nạn ma túy trong toàn xã hội đang được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện, tuy nhiên loại tội phạm này vẫn đang có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian và xét xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, căn cứ nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự cần khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, áp dụng hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã thu giữ:

- Đối với 01 phong bì thư niêm phong số ma túy còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 537/2019/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng. Xét đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu vàng đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 354741/07/737211/9; IMEI 2: 354742/07/737211/7, đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền 500.000đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo. Đây là tiền cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, mang BKS: 15B3-41844 căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa của bị cáo PVD và bà E là mẹ bị cáo đủ cơ sở xác định chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo PVD phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: PVD 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13 tháng 8 năm 2019.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong số ma túy còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 537/2019/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng.

- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu vàng đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 354741/07/737211/9; IMEI 2: 354742/07/737211/7.

- Trả lại số tiền 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2010/7515 ngày 16/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, mang BKS: 15B3-41844.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 16 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo PVD phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ