vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 30/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Như Y (tên khác C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Như Y (tên khác C) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 3 năm 2020. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Ý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Như Y (tên khác C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HS-ST
Ngày 30 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Hải Dương

Ông Nguyễn Quốc An

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Bà Ngô Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Văn Y (tên khác C), sinh ngày 13/8/2001 tại xã T, huyện D, tỉnh C; Nơi cư trú: ấp B , xã T, huyện D, tỉnh C; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Trần Thị A; vợ: Chưa; tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị tạm giữ ngày 24/3/2020 chuyển tạm giam ngày 27/3/2020. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 23/3/2020, Phạm Văn Y điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 64F9 – 4694 đi từ nhà của Y ở ấp B, xã T huyện Đầm Dơi đến khu vực thị trấn Đầm Dơi chơi thì Y gặp Quốc là bạn quen biết từ trước của Y. Y và Q chạy xe (nêu trên) đến nhà L ở xã A chơi (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Khi đến nhà L , Y và Q ngồi chơi khoảng 30 phút thì Q đưa cho Y 01 gói nilong có chứa tinh thể rắn, màu trắng nghi là ma túy đá và 01 cân tiểu ly đựng trong vỏ bao thuốc hiệu SEVEN DIAMONS nhờ Y mang xuống nhà Trần Ngọc H (tên thường gọi T ) thuộc khóm , thị trấn Đ , huyện Đ , tỉnh C đưa cho H , Yđồng ý. Y giấu gói nilong (nêu trên) trong nón kết có dòng chữ STANDARD CALIFONIA đội lên đầu, còn cân tiểu ly Ý giấu trong quần lót của Ý và điều khiển xe đến đoạn lộ phía trước nhà Trần Ngọc H thì bị lực lượng Công an thị trấn Đầm Dơi tuần tra phát hiện và bắt quả tang, tiến hành lập biên bản tạm giữ toàn bộ tang vật.

Tại kết luận giám định số 75/GĐH-PC09 ngày 25/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận các tinh thể rắn, trong suốt bên trong 01 túi nilong thu giữ của Phạm Văn Y như sau:

Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,4866 gam, loại Methamphetamine.

- Vật chứng thu giữ:

01 xe mô tô biển kiểm soát 64F9 - 4694;

01 điện thoại di động hiệu K-Touch, đã qua sử dụng được gắn sim 0833236736 và 0948630311;

01 cây cân tiểu ly mặt sau có chữ ITem No. Mini 2-200;

01 vỏ bao thuốc hiệu SEVEN DIAMONS;

01 nón kết có dòng chữ STANDARD CALIFONIA;

01 phòng bì đã niêm phong, bên trong là 0,4556 gam tinh thể cơ quan giám định hoàn lại (qua giám định đã xác định tinh thể này là Methamphetamine).

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 27 tháng 5 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố bị cáo Phạm Văn Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát bảo vệ toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Y mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về hình phát bổ sung: Phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu K-Touch, đã qua sử dụng được gắn sim 0833.236.736 và 0948.630.311.

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tích thu tiêu hủy 01 phòng bì đã niêm phong, bên trong là 0,4556 gam tinh thể Methamphetamine cơ quan giám định hoàn lại; 01 cân tiểu ly mặt sau có chữ ITem No. Mini 2-200; 01 vỏ bao thuốc hiệu SEVEN DIAMONS và 01 nón kết có dòng chữ STANDARD CALIFONIA.

Đối với xe môtô biển kiểm soát 64F9 - 4694, quá trình điều tra chưa xác định rõ nguồn gốc nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tách ra và đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi căn cứ vào tài liệu thu thập được tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo quy định.

- Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Y phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Y nói lời sau cùng: Từ khi bị cáo bị tạm giam đến nay, bị cáo ăn năn hối cải, tại Cơ quan điều tra bị cáo thật thà khai báo. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình và sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Y thừa nhận: Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 23/3/2020, lực lượng Công an thị trấn Đầm Dơi tuần tra, kiểm soát trên tuyến đường thuộc khóm 6, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau bắt quả tang bị cáo Phạm Văn Y có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,4866 gam, loại Methamphetamine. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ.

Do đó, hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,4866 gam Methamphetamine đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Do đó, Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 27 tháng 5 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo Phạm Văn Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo Y gây ra là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Khi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma tuý là hiểm họa xã hội, làm sói mòn đạo đức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức và sức khỏe con người, đe dọa nghiệm trọng đến an toàn trật tự cồng cộng, cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội và là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm hình sự khác là vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi vi phạm của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết như: Bị cáo có nhân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ đó, Hội đồng xét xử có xem xét đầy đủ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị của đại điện Viện kiểm sát để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Nên cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện học tập, lao động trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Đối với Trần Ngọc H, qua quá trình điều tra không có căn cứ chứng minh Trần Ngọc Hùng là đồng phạm đối với bị cáo Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” hoặc có dấu hiệu của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi không xử lý là có căn cứ.

Đối với đối tượng Q và L , do hiện nay chưa xác định được lý lịch, nhân thân của các đối tượng này, nên Cơ quan điều tra tách ra để điều tra làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.

Về hình phát bổ sung: Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không mang tính chất vụ lợi và bị cáo không có nghề nghiệp ổ định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Điện thoại di động hiệu K-Touch, đã qua sử dụng được gắn sim 0833.236.736 và 0948.630.311 bị cáo không sử dụng vào việc phạm tôi nên cần trả lại cho bị cáo Ý.

Đối với mẫu tinh thể Methamphetamine có khối lượng 0,4556 gam. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 cân tiểu ly mặt sau có chữ ITem No. Mini 2-200; 01 vỏ bao thuốc hiệu SEVEN DIAMONS và 01 nón kết có dòng chữ STANDARD CALIFONIA. Đây là vật công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với xe môtô biển kiểm soát 64F9 - 4694 thu giữ của bị cáo Y dùng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, quá trình điều tra chưa xác định rõ nguồn gốc nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tách ra và đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi căn cứ vào tài liệu thu thập được tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo Y phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Như Y (tên khác C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Như Y (tên khác C) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 3 năm 2020.

Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tích thu tiêu hủy mẫu tinh thể Methamphetamine có khối lượng 0,4556 gam; 01 cân tiểu ly mặt sau có chữ ITem No. Mini 2-200; 01 vỏ bao thuốc hiệu SEVEN DIAMONS và 01 nón kết có dòng chữ STANDARD CALIFONIA.

Trả lại 01 thoại di động hiệu K-Touch, đã qua sử dụng được gắn sim 0833.236.736 và 0948.630.311 cho bị cáo Phạm Văn Ý. Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 5 năm 2020.

Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Văn Y phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng)

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ