- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hữu T cùng đồng bọn "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trương Hữu T (L M), Võ Hoài Th (T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 16/2020/HS-ST Ngày: 22-05-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Hậu;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Công Tâm;
Ông Đỗ Văn Lom.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bé - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 04 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:
1/. Trương Hữu T (Tên gọi khác: L M), sinh năm 1979 tại Bến Tre; nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Đ và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ tên Phạm Thị Hồng G, sinh năm 1979 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 1997; tiền án: Không; tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ ngày 11/09/2019 và chuyển tạm giam từ ngày 17/09/2019.
Có mặt tại phiên tòa.
2/. Võ Hoài Th (Tên gọi khác: T), sinh ngày 24/06/2001 tại Bến Tre; nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hoàng Đ và bà Hồ Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ ngày 11/09/2019 và chuyển tạm giam từ ngày 17/09/2019.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Dương ThA L, sinh năm 1994; Vắng mặt
Nơi cư trú: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Người làm chứng:
+ Anh Đào Tấn Đ, sinh năm 1993; Vắng mặt
Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
+ Chị Huỳnh Thị Khả A, sinh năm 1997; Vắng mặt
Nơi cư trú: khu phố 2, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre.
+ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1976; Vắng mặt
Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
+ Ông Nguyễn Phong Vũ (Bảo Ân), sinh năm 1984; Vắng mặt
Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
+ Anh Võ Hồ Minh Ph (Cu tin), sinh năm 1996; Vắng mặt
Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 11 tháng 9 năm 2019, Trương Hữu T có đưa cho Võ Hoài Th 01 gói ni lon có chứa 13 đoạn ống nhựa màu trắng và màu xanh bên trong có chứa ma túy tổng hợp dạng đá để Th bán khi T đi vắng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi T đang ngủ tại nhà thuộc ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre thì có Đào Tấn Đ, sinh năm 1993 ngụ ấp V, xã V, huyện C gọi điện thoại hỏi mua ma túy đá với giá 600.000 đồng, T đồng ý bán và nói với Th khi nào Đ lại đưa một góc tám má túy (gồm 02 đoạn ống nhựa màu xanh hoặc 03 đoạn màu trắng) và lấy 600.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ Đ cùng với bạn là Huỳnh Thị Khả A, sinh năm 1997 ngụ khu phố 2, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đến gặp Th lấy ma túy, nhưng do không đủ tiền nên Đ chỉ lấy 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng, Th lấy 02 đoạn ống nhựa màu xanh có chứa ma túy đưa để Đ lựa lấy 01 đoạn, Th lấy tiền từ Đ và cất đoạn ma túy còn lại vào chung với số ma túy mà T đưa trước đó để giữ khi nào có ai mua thì tiếp tục bán. Khi nhận ma túy và giao tiền cho Th xong Đ cùng với A ra về thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát điều trái tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Bến Tre phối hợp với Công an huyện Chợ Lách ập vào bắt quả tang tạm giữ đối tượng cùng tang vật gồm: 04 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn có chứa chất nghi là ma túy, 07 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn có chứa chất nghi là ma túy tất cả được niêm phong vào gói ký hiệu T1; 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất nghi là ma túy được niêm phong trong gói ký hiệu T2 và 01 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất nghi là ma túy được niêm phong trong gói ký hiệu Đ và số tiền 300.000 đồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu T3.
Quá trình làm việc, Võ Hoài Th khai nhận số ma túy trên là do Trương Hữu T đưa bán. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều trái đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại số nhà số 58/29 ấp V, xã V, huyện C và thu giữ ở bàn gỗ trên gác nhà T 01 gói ni lon màu trắng hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy và 01 ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
Qua làm việc T khai nhận là có nhiều lần trực tiếp bán và đưa ma túy cho Th bán khi mình đi vắng, gói ma túy còn cất giữ lại là để sử dụng và nếu có ai mua sẽ tiếp tục phân ra để bán nên Cơ quan điều trái tiến hành thu giữ và niêm phong gói ma túy này, ký hiệu A1.
Ngoài lần bị bắt quả tang ngày 11 tháng 9 năm 2019 Trương Hữu T và Võ Hoài Th còn khai nhận trước đó đã nhiều lần bán ma túy cho Đào Tấn Đ và những người khác, cụ thể như sau:
- Trương Hữu T đã trực tiếp bán ma túy cho Đ và Nguyễn Văn Ph, sinh năm: 1976 ngụ ấp Bình Tây, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách 02 lần, mỗi lần một góc tám ma túy với số tiền 600.000 đồng; bán cho Nguyễn Phong V, sinh năm: 1984 ngụ ấp Thanh Yên, xã Tân Thiềng, huyện Chợ Lách và Thành M (không xác định được họ tên lại lịch cụ thể), mỗi người từ 01 đến 02 lần, mỗi lần số tiền 200.000 đồng.
- Võ Hoài Th trực tiếp bán ma túy do T đưa, cụ thể:
+ Lần 1: Bán cho Đ và Nguyễn Văn Ph một góc tám ma túy với số tiền 600.000 đồng.
+ Lần 2: Bán cho Đ một góc tám ma túy với số tiền 600.000 đồng.
+ Lần 3: Ngày 11/9/2019 bán cho Đ đi cùng với Khả A thì bị bắt quả tang.
Ngoài ra, Th còn bán ma túy cho Nguyễn Phong V, Võ Hồ Minh Ph, sinh năm: 1996 ngụ ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách và Điền (không xác định được họ tên lai lịch cụ thể), mỗi người từ 02 đến 03 lần (không xác định được thời gian cụ thể).
Cơ quan điều trái đã tiến hành làm việc: Đào Tấn Đ khai nhận có mua ma túy do T bán 02 lần, Th bán 03 lần (kể cả lần bị bắt quả tang); Nguyễn Văn Ph khai có đi cùng với Đ mua ma túy 03 lần và nhiều lần tự đến mua ma túy do T và Th bán (không nhớ số lần và số lượng ma túy là bao nhiêu); Nguyễn Phong V khai mua ma túy do T bán 02 lần trở lên, mỗi lần 200.000 đồng và mua ma túy do Th bán từ 04 đến 05 lần trở lên, mỗi lần 200.000 đồng; Võ Hồ Minh Ph mua ma túy do Th trực tiếp bán 03 lần, mỗi lần 200.000 đồng.
Quá trình điều trái, các bị cáo Trương Hữu T, Võ Hoài Th khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với những chứng cứ đã thu thập được.
Cáo trạng số 21/CT-VKSCL ngày 20 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách để xét xử các bị cáo Trương Hữu T, Võ Hoài Th về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Trương Hữu T, Võ Hoài Th và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Trương Hữu T, Võ Hoài Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58, 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trương Hữu T từ 08 năm đến 09 năm tù.
Xử phạt bị cáo Võ Hoài Th từ 07 năm đến 08 năm tù.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Đề nghị ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều trái công an huyện Chợ Lách đã:
- Trả lại cho Dương Tha L 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu đỏ đen, biển số 71C4-289.08.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 phong bì niêm phong số 109/2019 bên trong có chứa ma túy tổng hợp, loại Methamphetamine lần lượt gói T1 là 1,0442 gam, gói A1 là 0,1183 gam do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre hoàn trả, có chữ ký của Phan Trung Trực, Vũ Khắc Hồng Quân và đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre; 01 hộp nhựa màu trắng hình vuông, loại chứa hộp đèn bên trên có chữ không rõ, có số 1602;
Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Imei 356798620453626; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Imei 1 35000091471018, số Imei 2 359000091971017 kèm theo thẻ sim số 0366909495;
Đề nghị trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Massel, số Imei 1 86491030021508, số Imei 2 867491030046505 kèm theo thẻ sim số 0762964542; trả lại cho bị cáo Võ Hoài Th số tiền 70.000 đồng, gồm một tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng, 02 tờ tiền polime mệnh giá mỗi tờ 10.000 đồng.
Các bị cáo Trương Hữu T, Võ Hoài Th khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã xác định, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tráinh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều trái Công an huyện Chợ Lách, Điều trái viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, Kiểm sát viên trong quá trình điều trái, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều trái và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định.
Lời khai nhận tội của các bị cáo Trương Hữu T, Võ Hoài Th tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều trái, có đủ cơ sở xác định: Với mục đích thu lợi bất chính từ việc bán ma túy, nên bị cáo Trương Hữu T đã nhiều lần trực tiếp bán ma túy và đưa ma túy cho bị cáo Võ Hoài Th nhiều lần bán cho Đào Tấn Đ; Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Phong V, Võ Hồ Minh Ph. Đến ngày 11/9/2019 T tiếp tục đưa ma túy để Th bán cho Đ, khi cả hai vừa giao nhận ma túy và tiền xong thì bị lực lượng Phòng cảnh sát điều trái tội phạm về ma túy – Công an tỉnh Bến Tre phối hợp với Công an huyện Chợ Lách bắt quả tang cùng tang vật.
Tại bản kết luận giám định về ma túy số 109/2019/GĐMT ngày 12/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre thì 03 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi tên Trần Duy L, Võ Hoài Th, Đào Tấn Đ , Lê Hữu Ph, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H và dấu tròn màu đỏ của Công an xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách lần lượt được ký hiệu T1, T2, Đ cụ thể:
- Tinh thể màu trắng được đựng trong 11 (mười một) đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1 gởi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng 1, 1592 gam.
- Tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2 gởi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng 0,0083 gam.
- Tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ gởi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng 0,0349 gam.
- Phong bì được niêm phong có chữ ký ghi tên Vũ Khắc Hồng Q, Lê Hữu P, Trương Hữu T, Trương Văn Đ, Nguyễn Văn H và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách ký hiệu A1 gởi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng 0,1285 gam.
Tổng khối lượng ma túy là 1,3309 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, NĐ 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ, đây là loại chất ma túy, không được phép mua bán theo quy định.
Các bị cáo là người đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, biết được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý làm trái và tội phạm đã hoàn thành. Các bị cáo trong một khoảng thời gian ngắn đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều người. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trương Hữu T, Võ Hoài Th đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy, không chỉ ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa Ph các bị cáo phạm tội, mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ của người sử dụng ma tuý, gây tâm lý bất an cho quần chúng nhân dân, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra.
Về vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm nên phải áp dụng theo chế định đồng phạm để xử lý. Xét thấy trong vụ án này bị cáo T là người giữ vai trò chính, bị cáo không chỉ là người mua ma túy về phân ra rồi trực tiếp bán cho các đối tượng nghiện ma túy mà còn giao ma túy cho bị cáo Th bán cho các đối tượng nghiện ma túy khi bị cáo không có nhà; còn bị cáo Th giữ vai trò giúp sức cho bị cáo T bán ma túy cho các đối tượng nghiện khi bị cáo T đi vắng và được T cho tiền tiêu xài, sinh hoạt cá nhân nên về vai trò, tính chất phạm tội của bị cáo T là nghiêm trọng hơn so với bị cáo Th.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng năng;
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều trái cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, các bị cáo có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự) là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với hành vi của Đào Tấn Đ, Ủy ban nhân dân huyện Chợ Lách đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt xong; Hành vi của Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Phong V, Võ Hồ Minh Ph chưa đủ cơ sở để xử lý. Riêng Thành M và Đ không tiến hành làm việc được nên khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- Quá trình điều trái, Cơ quan cảnh sát điều trái Công an huyện Chợ Lách đã trả lại cho Dương Th L 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu đỏ đen, biển số 71C4-289.08 là phù hợp nên ghi nhận.
- Đối với 01 phong bì niêm phong số 109/2019 bên trong có chứa ma túy tổng hợp, loại Methamphetamine lần lượt gói T1 là 1,0442 gam, gói A1 là 0,1183 gam do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre hoàn trả, có chữ ký của Phan Trung Tr, Vũ Khắc Hồng Q và đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre là số lượng ma túy còn lại sau giám định nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu T3 có chữ ký của Võ Hoài Th, Đào Tấn Đ, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Văn H, Trần Duy L, Lê Hữu P và có đóng dấu niêm phong của Công an xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, bên trong có số tiền 300.000 đồng là tiền các bị cáo có được từ việc bán ma túy nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 hộp nhựa màu trắng hình vuông, loại chứa hộp đèn bên trên có chữ không rõ, có số 1602 hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Imei 356798620453626; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Imei 1 35000091471018, số Imei 2 359000091971017 kèm theo thẻ sim số 0366909495 là Ph tiện sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Massel, số Imei 1 86491030021508, số Imei 2 867491030046505 kèm theo thẻ sim số 0762964542 là tài sản của bị cáo T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với số tiền 70.000 đồng, gồm một tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng, 02 tờ tiền polime mệnh giá mỗi tờ 10.000 đồng là tài sản của bị cáo Th, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Ngoài ra, có căn cứ xác định số tiền bị cáo T thu lợi bất chính từ việc bán ma túy là 2.200.000 đồng. Do đó cần buộc bị cáo T phải giao nộp để tịch thu sung quỹ nhà nước.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm, các bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ các điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và các Điều 17, 58, 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố các bị cáo Trương Hữu T (L M), Võ Hoài Th (T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo: Trương Hữu T (L M) 08 (Tám) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 11/09/2019.
Xử phạt bị cáo: Võ Hoài Th (T) 07 (Bảy) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 11/09/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều trái Công an huyện Chợ Lách đã trả lại cho Dương ThA L 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu đỏ đen, biển số 71C4-289.08.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 109/2019, bên trong có chứa ma túy tổng hợp, loại Methamphetamine lần lượt gói T1 là 1,0442 gam, gói A1 là 0,1183 gam do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre hoàn trả, có chữ ký của Phan Trung T, Vũ Khắc Hồng Q và đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre và 01 hộp nhựa màu trắng hình vuông, loại chứa hộp đèn bên trên có chữ không rõ, có số 1602.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được đựng trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu T3 có chữ ký của Võ Hoài Th, Đào Tấn Đ, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Văn H, Trần Duy L, Lê Hữu P và có đóng dấu niêm phong của Công an xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Imei 356798620453626; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Imei 1 35000091471018, số Imei 2 359000091971017 kèm theo thẻ sim số 0366909495.
- Trả lại cho bị cáo Trương Hữu T 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Massel, số Imei 1 86491030021508, số Imei 2 867491030046505 kèm theo thẻ sim số 0762964542.
- Trả lại cho bị cáo Võ Hoài Th số tiền Việt Nam 70.000 đồng (gồm một tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng, 02 tờ tiền polime mệnh giá mỗi tờ 10.000 đồng).
(Các vật chứng này đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách theo biên bản bàn giao ngày 21 tháng 4 năm 2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều trái công an huyện Chợ Lách và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).
- Buộc bị cáo Trương Hữu T phải giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) để tịch thu sung quỹ nhà nước.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Trương Hữu T, Võ Hoài Th mỗi người phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống Đ hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Lách; - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND tỉnh Bến Tre; - Cơ quan điều trái huyện Chợ Lách; - Chi cục T.H.A huyện Chợ Lách; - Trại tạm giam huyện Chợ Lách; - Lưu HSVA+ HSTHA+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ĐÃ KÝ Lê Chí Hậu |