- Tranh chấp gì? án hình sự — "NN S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N N S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2020/HS-ST Ngày: 23/4/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lữ Kim Hằng.
2. Ông Vũ Xuân Vương.
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Báu - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 23 tháng 4 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
N N S(Lép), sinh năm 1992, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp 6, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ chụp ảnh; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông N C, sinh năm: 1968 và bà N T, sinh năm: 1972; vợ: N T T (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/11/2019, đến ngày 14/11/2019 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Ông N V H, sinh năm: 1985 (vắng mặt không có lý do).
Nơi cư trú: Tổ 10, ấp Cọ Dầu 1, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
N N Slà đối tượng nghiện ma túy, vào khoảng 13 giờ 08/11/2019, Sơn đi bộ từ nhà ra đường và đón xe mô tô xin đi nhờ của 01 người thanh niên đến khu vực ngã ba Nông trường 1, thuộc ấp 10, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai gặp một người đàn ông tên Vinh (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 04 bịch ma túy đá thì Vinh đồng ý bán. Vinh đến và đưa cho Sơn 04 bịch ni lông màu trắng, được hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể màu trắng và nhận số tiền 600.000 đồng. Sơn lấy số ma túy vừa mua được đem bỏ vào trong một gói thuốc lá hiệu 555 đút vào túi quần bên phải rồi đi về nhà ông N V H. Tại đây, Sơn lấy gói thuốc hiệu 555 có chứa 04 bịch ma túy đá ra để bên cạnh chỗ ngồi. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Cẩm Mỹ tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ tại chỗ ngồi của Sơn 04 bịch ny lông màu trắng được hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng.
Tại Bản kết luận giám định số 1437/PC09-GĐMT ngày 13/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,9398 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSCM ngày 24/02/2020 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo N N Svề tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đối với người đàn ông tên Vinh (không rõ nhân thân lai lịch) là người đã bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau theo quy định của pháp luâ ât.
Riêng đối với ông N V H không biết N N Sđến chơi có đem theo ma túy nên không phạm tội.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong có dấu đỏ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai số 1437/PC09-GĐMT ngày 13/11/2019.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Masstel.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết sai, xin hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo N N S khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại nhà ông N V H thuộc ấp Cọ Dầu 1, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, N N Scó hành vi tàng trữ trái phép 04 bịch ny lông màu trắng, được hàn kín, bên trong là chất ma túy, khối lượng 0,9398 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Cẩm Mỹ bắt quả tang. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo N N S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật, giết người..., làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần xử bị cáo một mức án đúng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung, đồng thời cho bị cáo một thời gian cần thiết để cai nghiện ma túy. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, do đó, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai số 1437/PC09-GĐMT ngày 13/11/2019 bên trong có ma túy loại Methamphetamine.
Đối với 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Masstel của bị cáo không phải là công cụ được sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[5] Đối với người đàn ông tên Vinh (không rõ nhân thân lai lịch) là người đã bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau theo quy định của pháp luâ ât.
Riêng đối với ông N V H không biết hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ không xử lý hình sự là có căn cứ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo N N S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c, Khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo N N S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, Thời hạn từ tính từ ngày 08/11/2019.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai số 1437/PC09-GĐMT ngày 13/11/2019 bên trong có ma túy loại Methamphetamine (Theo Biên bản giao nhân vật chứng, tài sản ngày 26/02/2020, giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ).
Trả lại cho bị cáo N N S 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Masstel (Theo Biên bản giao nhân vật chứng, tài sản ngày 26/02/2020, giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Cẩm Mỹ; - THADS huyện Cẩm Mỹ; - Cơ quan điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Cẩm Mỹ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. Thành viên hội đồng xét xử Lê Đức Dũng- Vũ Xuân Vương | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hoài Bảo HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Hoài Bảo |