vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 16/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

uyên bố bị cáo Nguyễn hế N phạm t i “ àng trữ trái phép chất ma t y”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn hế N 01 (M t) năm 6 (Sáu tháng tù về t i “ àng trữ trái phép chất ma t y”. hời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 09/11/2019. Về vật chứng vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? uyên bố bị cáo Nguyễn hế N phạm t i “ àng trữ trái phép chất ma t y”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; luật tố tụng hình sự c n tịch thu tiêu hủy; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN N DÂN
HUYỆN C
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HS-ST
Ngày: 16 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà r n im oan.

Các Hội thẩm N dân:

Ông Dương r n rọng Quang.

Ông Huỳnh Văn hanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn uận – hư ký òa án nhân dân huyện C, tỉnh iền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhớ - iểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở oà án nhân dân huyện C, tỉnh iền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn hế N, sinh ngày 18/8/1989. Nơi sinh: Ấp P, xã N, huyện C, tỉnh iền Giang; Nơi cư tr : Ấp P, xã N, huyện C, tỉnh iền Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: àm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân t c: inh; ôn giáo: hông; rình đ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn Văn Bé H và bà Nguyễn hị M; Anh, chị, em ru t bị cáo có 04 người; Bị cáo có vợ là Nguyễn hị Hồng P; iền án, tiền sự: hông có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/11/2019 đến ngày 15/11/2019 thì tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Văn Bé H, sinh năm 1958 (vắng mặt .

Địa chỉ: Ấp P, xã N, huyện C, tỉnh iền Giang.

- Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Vũ Y, sinh năm 1975 (có mặt .

Địa chỉ: Ấp P, xã N, huyện C, tỉnh iền Giang.

2/Anh Nguyễn Văn , sinh năm 1991 (có mặt .

Địa chỉ: Ấp P, xã N, huyện C, tỉnh iền Giang.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình xét h i, tranh luận tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/11/2019 bị cáo Nguyễn hế N đến khu vực chợ M thu c xã T, thị xã L, tỉnh iền Giang gặp m t thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ để mua năm bịch ma t y với giá 800.000 đồng để sử dụng d n. Về nhà, Nhận cất giấu bốn bịch ma t y trong ống nhựa màu trắng được quấn băng keo màu đen và m t bịch giấu trong bịch b t giặt Net. Đến 9 giờ 40 ph t ngày 09/11/2019, anh Nguyễn Văn đến nhà bị cáo chơi, bị cáo nói với anh , bị cáo có ma t y và rủ anh cùng sử dụng và anh đồng ý. Bị cáo vào phòng ngủ lấy ma t y ra chuẩn bị sử dụng thì bị cáo bị bắt quả tang.

heo kết luận giám định số 188/ GĐ-PC09 ngày 12/11/2019 của Phòng ỹ thuật hình sự Công an tỉnh iền Giang kết luận:

Gói 1: M u tinh thể màu trắng trong bốn gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong m t bì thư màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma t y có tổng khối lượng là 0,3204 gam, loại Methamphetamine.

Gói 2: M u tinh thể màu trắng trong gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong m t bì thư màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma t y có khối lượng là 1,3661 gam, loại Methamphetamine.

Cơ quan điều tra xét thấy m t điện thoại di đ ng hiệu Samsung màu vàng trắng và m t điện thoại di đ ng hiệu Nokia màu xanh đen không liên quan đến hành vi phạm t i của bị cáo nên đã trao trả cho chị Nguyễn hị Hồng P là vợ của bị cáo nhận thay.

Đối với ông Nguyễn Văn Bé H, không biết bị cáo tàng trữ trái phép chất ma t y trong nhà của ông nên ông Nguyễn Văn Bé H không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Anh Nguyễn Văn , Công an huyện đã lập hồ sơ xử lý hành chính.

ại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bị cáo Nguyễn hế N đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình, bị cáo thống nhất với kết luận của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng của Viện kiểm sát.

ại bản cáo trạng số 08/CT-VKSCL ngày 02 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh iền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn hế N về t i “ àng trữ trái phép chất ma t y” theo điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa v n giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm t i của bị cáo Nguyễn hế N đủ yếu tố cấu thành t i “ àng trữ trái phép chất ma t y . Đề nghị H i đồng xét xử áp dụng:

Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn hế N từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự: ịch thu tiêu hủy m t b bình tự chế dùng để sử dụng ma t y; Hai n thủy tinh dùng để sử dụng ma t y; M t cân điện tử màu đen hiệu Mose Scale; M t cây kéo bằng kim loại màu trắng có cán màu tím; 656 bịch nylon màu trắng, hàn kín có khe bóp hở m t đ u có viền xanh m t đ u kích thước (2,5 x 2,3 cm, bên trong không chứa gì; 261 ống nhựa màu trắng; Bốn ống nhựa màu trắng hàn kín m t đ u hở m t đ u; m t bì thư ký hiệu số 188/1 ngày 12/11/2019 bên trong có 01 gói nylon màu trắng có khối lượng là 0,2388 gam còn lại sau giám định loại Methamphetamine và 04 v bao gói nilon màu trắng đã bị cắt m t đ u, 01 bì thư ký hiệu số 188/2 ngày 12/11/2019 bên trong có 01 gói nylon màu trắng có khối lượng là 1,1912 gam còn lại sau giám định loại Methamphetamine và 01 v bao gói nilon màu trắng đã bị cắt m t đ u.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, xin H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với xã h i.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

rên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

ại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện bị cáo Nguyễn hế N có hành vi cất giấu bất hợp pháp năm bịch nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng được hàn kín xung quanh, qua giám định đã được kết luận là ma t y tổng hợp, khối lượng 1,6865 gam loại Methamphetamine, mục đích cất giấu ma t y để sử dụng d n. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn hế N phạm t i “ àng trữ trái phép chất ma t y”.

Hành vi của bị cáo Nguyễn hế N là nguy hiểm, đã xâm phạm đến chế đ quản lý đ c quyền của Nhà nước đối với chất ma t y, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi của công dân về việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán, trao đổi trái phép chất ma t y. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã h i tại địa phương nói riêng và của toàn xã h i nói chung. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i được pháp luật hình sự điều chỉnh, bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, c n xử lý nghiêm đối với hành vi của bị cáo để bị cáo có đủ thời gian cải tạo bản thân trở thành m t công dân có ích cho xã h i và đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: rong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, gia đình bị cáo có cung cấp giấy chứng nhận gia đình liệt s và giấy liệt s của ông Nguyễn Văn N, ông N là ông n i của bị cáo. Do đó, H i đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Vật chứng vụ án: M t b bình tự chế; Hai n thủy tinh; M t cân điện tử màu đen hiệu Mose Scale; M t cây kéo bằng kim loại màu trắng có cán màu tím; 656 bịch nylon màu trắng, hàn kín có khe bóp hở m t đ u có viền xanh m t đ u kích thước (2,5 x 2,3 cm, bên trong không chứa gì; 261 ống nhựa màu trắng; Bốn ống nhựa màu trắng hàn kín m t đ u hở m t đ u; M t bì thư ký hiệu số 188/1 ngày 12/11/2019 bên trong có 01 gói nylon màu trắng có khối lượng là 0,2388 gam còn lại sau giám định loại Methamphetamine và 04 v bao gói nilon màu trắng đã bị cắt m t đ u; M t bì thư ký hiệu số 188/2 ngày 12/11/2019 bên trong có 01 gói nylon màu trắng có khối lượng là 1,1912 gam còn lại sau giám định loại Methamphetamine và 01 v bao gói nilon màu trắng đã bị cắt m t đ u. H i đồng xét xử nhận thấy, vật chứng này liên quan đến vụ án và không có giá trị sử dụng, căn cứ vào khoản 1 Điều 47 B luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự c n tịch thu tiêu hủy.

[7 Tại phiên tòa ngày 07/5/2020 và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nại anh Nguyễn Văn có hành vi dự trữ ma t y và luôn có sẵn dụng cụ để sử dụng ma t y tại nhà của anh . Anh T cho bị cáo sử dụng không lấy tiền. H i đồng xét xử nhận thấy, vụ án phát sinh tình tiết mới nhưng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chưa điều tra và cho đối chất để làm rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma t y của anh Nguyễn Văn nên chưa có cơ sở xem xét hành vi phạm t i của anh .

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét tính chất, mức đ hành vi phạm t i và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị H i đồng xét xử phạt bị cáo với mức án tương xứng hành vi phạm t i của bị cáo với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của H i đồng xét xử nên được H i đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của Điều 136 B luật ố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí òa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. uyên bố bị cáo Nguyễn hế N phạm t i “ àng trữ trái phép chất ma t y”.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn hế N 01 (M t) năm 6 (Sáu tháng tù về t i “ àng trữ trái phép chất ma t y”. hời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 09/11/2019.

3. Về vật chứng vụ án:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 B luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự.

ịch thu tiêu hủy m t b bình tự chế; Hai n thủy tinh; M t cân điện tử màu đen hiệu Mose Scale; M t cây kéo bằng kim loại màu trắng có cán màu tím; 656 bịch nylon màu trắng, hàn kín có khe bóp hở m t đ u có viền xanh m t đ u kích thước (2,5 x 2,3 cm, bên trong không chứa gì; 261 ống nhựa màu trắng; Bốn ống nhựa màu trắng hàn kín m t đ u hở m t đ u; m t bì thư ký hiệu số 188/1 ngày 12/11/2019 bên trong có 01 gói nylon màu trắng có khối lượng là 0,2388 gam còn lại sau giám định loại Methamphetamine và 04 v bao gói nilon màu trắng đã bị cắt m t đ u, 01 bì thư ký hiệu số 188/2 ngày 12/11/2019 bên trong có 01 gói nylon màu trắng có khối lượng là 1,1912 gam còn lại sau giám định loại Methamphetamine và 01 v bao gói nilon màu trắng đã bị cắt m t đ u.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 B luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i.

Bị cáo Nguyễn hế N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ