vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 08/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Võ Luýt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Võ Luýt T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 25/11/2019. 2/ Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Luýt T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Võ Luýt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HS-ST
Ngày: 08-5-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thoa

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thanh Hải

2. Ông Huỳnh Ngọc Trứ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn, là cán bộ Tòa án nhân thị xã Cai Lậy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Vân, Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2020. Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo.

Võ Luýt T, Sinh năm 1986, tại tỉnh Tiền Giang; chứng minh nhân dân số: 312012958; Nơi cư trú: ấp H, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn H, sinh năm 1955 và bà Võ Thị Bé M, sinh năm 1958; Vợ: Trần Thị Mỹ L; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 14/8/2017, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lí hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng đối với Võ Luýt T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 17/3/2019.

- Đặc điểm nhân thân của bị can: Ngày 15/11/2004, bị Ủy ban nhân dân xã M ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 06 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng. Ngày 02/3/2006, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang áp dụng biện pháp xử lí hành chính đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 12 tháng về hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác, chấp hành xong ngày 06/01/2007. Ngày 25/3/2008, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội cướp giật tài sản, chấp hành xong ngày 18/02/2011.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 25/11/2019, chuyển tạm giam từ ngày 28/11/2019 đến nay. (Có mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/. Phạm Thị Hồng Đ, sinh năm 1994. (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 1, xã Đ, Huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

2/. Mai Chế L, sinh năm 1979. (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 24/11/2019, Võ Luýt T gọi điện thoại cho Trần Văn Hồng N (tên thường gọi là Xí), đăng kí thường trú: số 549/69B đường N, phường 2, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh nhờ mua ma túy, N đồng ý. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 63B2 – 108.22 đến khu vực thành phố T, tỉnh Long An, gửi xe tại một quán nước giải khát rồi đón xe khách đến khu vực vòng xoay An Lạc thuộc quận Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh gặp N. T đưa cho N số tiền 1.000.000 đồng, N đưa cho T 01 (một) bịch ma túy và 02 (hai) nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy. T cất giấu ma túy và nỏ vào túi quần rồi đón xe khách về lại thành phố T lấy xe mô tô và đi về khách sạn MT tọa lạc ấp K, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Ging, đến phòng nghỉ số 05 gặp Phạm Thị Hồng Đ, sinh năm 1994, đăng kí thường trú: ấp 1, xã Đ, Huyện K, tỉnh Sóc Trăng, lúc này Đoan đã đi ra ngoài. T chia bịch ma túy thành 02 (hai) bịch nhỏ, 01 (một) bịch dùng giấy bạc gói lại, còn 01 (một) bịch khác quấn lại dạng ống tròn. T đem 02 (hai) bịch ma túy vừa phân chia cất giấu vào túi quần, để lại một ít ma túy vào nỏ thủy tinh để sử dụng. Lúc này Đ về phòng, thấy T đang sử dụng ma túy nên sử dụng cùng T. Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra hành chính, do sợ bị phát hiện nên T đi vào nhà vệ sinh bỏ 02 (hai) bịch ma túy vào bồn cầu thì bị lực lượng Công an phát hiện.

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy (trước khi kiểm tra được quấn lại dạng ống tròn) kí hiệu số 01;

- 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín chứa tinh thể rắn nghi là ma túy (trước khi kiểm tra được bao lại bằng tờ giấy bạc) kí hiệu số 02;

- 01 (một) tờ giấy bạc (loại giấy bạc trong bao thuốc lá);

- 01 (một) ví da màu đen bên trong có một giấy chứng minh nhân dân tên Võ Luýt T và tiền Việt nam là 710.000 đồng;

- 02 (hai) nỏ thủy tinh;

- 03 (ba) đoạn ống nhựa màu trắng có một đầu nhọn;

- 01 (một) bật lửa sử dụng gas màu trắng, bị mất phần đầu;

- 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, trên nắp có hai lỗ tròn;

- 01 (một) chai gas màu đen;

- 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung màu bạc.

Bản kết luận giám định số 202/KLGĐ-PC09 ngày 26/11/2019 của Phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Tiền Giang kết luận:

- Gói 1: mẫu tinh thể màu trắng trong 01(một) gói nylon trong suốt được hàn kín, để trong một bì thư được niêm phong (kí hiệu số 01) có các chữ kí ghi họ tên: Võ Luýt T, Đặng Nhật Khuynh (Điều tra viên), Mai Chế L (người chứng kiến), chữ kí in họ tên Lê Duy Lý (Phó trưởng Công an xã M) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ M – CÔNG AN THỊ XÃ C – TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5827 gam, loại Methamphetamine.

- Gói 2: mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nylon trong suốt được hàn kín, để trong một bì thư được niêm phong (kí hiệu số 02) có các chữ kí ghi họ tên: Võ Luýt T, Đặng Nhật Khuynh (Điều tra viên), Mai Chế L (người chứng kiến), chữ kí in họ tên Lê Duy Lý (Phó trưởng Công an xã Mỹ Phước Tây) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ M – CÔNG AN THỊ XÃ C – TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,5798 gam, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 16 ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Võ Luýt T tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Võ Luýt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù. Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 BLHS: Đề tịch tịch tiêu hủy vật chứng đang tạm giữ. Riêng điện thoại trả lại cho bị cáo.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình phụ giúp gia đình và chăm lo vợ con.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xét thấy, trong giai đoạn điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên việc vắng mặt của những người này vẫn không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo tại phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 1 của Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên. Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội danh:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Luýt T đã nhận tội và khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo đã phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể khoảng 23 giờ 20 phút ngày 24/11/2019 Công an thị xã Cai Lậy kiểm tra, bắt quả tang T đang tàng trữ ma túy. Căn cứ vào Kết luận giám định số 202/KLGĐ-PC09 ngày 26/11/2019 của Phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Số ma túy thu giữ do T tàng trữ là ma túy loại Methamphetamie có khối lượng 2.1625 gam. Do đó Võ Luýt T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hôi, vì đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, việc bị cáo T tàng trữ ma túy loại Methamphetamie với khối lượng 2.1625 gam không những gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, làm cho nhiều gia đình phải đổ vỡ, ly tán đồng thời là nguồn gốc phát sinh ra rất nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác như trộm cắp, cướp giật, lừa đảo, thậm chí giết người....cũng như lây lan ra các căn bệnh nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã mua ma túy về sử dụng, sau đó tàng trữ. Xét về ý thức của bị cáo vẫn biết được việc tàng trữ ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn bất chấp cố ý thực hiện tôi phạm chứng tỏ bị cáo rất xem thường pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Sau khi xem xét toàn bộ tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi do bị cáo thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải được xử lý nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo chỉ là người nghiện ma túy việc bị cáo tàng trữ chỉ nhầm mục đích sử dụng nên không có thu lợi. Do đó nghĩ nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng:

Đối với vật chứng hiện đang tạm giữ, xét thấy đây là hàng cấm nghĩ nên tịch thu tiêu hủy. Đối với điện thoại di động nhãn hiệu samsung, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Trần Thị Mỹ L nên HĐXX không đạt ra xem xét. Riêng đối với ví da, chứng minh nhân dân và số tiền 710.000đ là tiền cá nhân bị cáo, nghĩ nên trả lại cho bị cáo.

Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

1/ Tuyên bố bị cáo Võ Luýt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Võ Luýt T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 25/11/2019.

2/ Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tuyên tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu số 202/1 ghi ngày 26 tháng 11 năm 2019, có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh Trường (giám định viên). Huỳnh Thị Diệu Hương (trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Đặng Nhật Khuynh (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín chứa 0,4562 gam là ma túy còn lại sau khi giám định loại Methamphetamibe và 01 (một) vỏ bao gói nylon trong suốt đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định;

- 01 (một) 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu số 202/2 ghi ngày 26 tháng 11 năm 2019, có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh Trường (giám định viên). Huỳnh Thị Diệu Hương (trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Đặng Nhật Khuynh (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín chứa 1,5212 gam là ma túy còn lại sau khi giám định loại Methamphetamibe và 01 (một) vỏ bao gói nylon trong suốt đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định;

- 01 (một) tờ giấy bạc (loại giấy bạc trong bao thuốc lá);

- 02 (hai) nỏ thủy tinh;

- 03 (ba) đoạn ống nhựa màu trắng có một đầu nhọn;

- 01 (một) bật lửa sử dụng gas màu trắng, bị mất phần đầu;

- 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, trên nắp có hai lỗ tròn;

- 01 (một) chai gas màu đen;

+ Tuyên trả lại cho bị cáo 01 (một) ví da màu đen; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân tên Võ Luýt T và tiền Việt nam là 710.000 đồng (chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy đã ra biên lai tạm thu số 00779 ngày 20/4/2020)

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy).

3/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và Điều 136 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự . Nghị̀ quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy đình về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Võ Luýt T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ