- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Thị Minh Ngọc - Phạm Văn Minh"
- Tòa quyết gì? Xử: Cho ly hôn giữa chị Trịnh Thị Thúy Ngọc và anh Phạm Văn Minh
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2020/HNGĐ -ST Ngày 14/8/2020. V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH – TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng;
2. Ông Nguyễn Thị Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hà Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 14/8/2020 tại trụ sở TAND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, TAND huyện Phù Ninh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 41/2020/ TLST-HNGĐ ngày 12/3/2020 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST ngày 31/7/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Thúy Ngọc, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Khu 1, TT Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Hôm nay có mặt.
Bị đơn: Anh Phạm Văn Minh, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Khu 1, TT Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang bị tạm giam tại trại tam giam Công an tỉnh Phú Thọ.
Hôm nay, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai chị Trịnh Thúy Ngọc trình bày: Chị và anh Phạm Văn Minh có được tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 24/11/2007 tại UBND TT Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung cùng gia đình anh Minh tại khu 1, thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Minh chơi bời, nghiện ma túy, gia đình đã hai lần đưa anh Minh đi cai nghiện ma túy nhưng sau khi cai nghiện trở về anh Minh lại tiếp tục nghiện ma túy. Chị và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Minh không thay đổi nên ngày 7/5/2015 chị đã chuyển về sống tại nhà chị gái tại khu 8, xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay và không còn quan hệ về mặt tình cảm. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn với anh Minh.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Tuấn Dương, sinh ngày 24/3/2008. Hiện nay cháu Dương đang ở cùng với anh Minh và bà nội tại khu 1, TT Phong Châu, huyện Phù Ninh.
Nếu ly hôn chị xin được nuôi cháu Dương và không yêu cầu anh Minh phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không có.
* Anh Phạm Văn Minh trình bày: Về thời gian kết hôn và quá trình chung sống như chị Ngọc trình bày. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị Ngọc tự ý đi nước ngoài mà không được sự đồng ý của anh. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Hiện nay, anh đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Phú Thọ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nay chị Ngọc xin ly hôn anh cũng nhất trí vì tình cảm vợ chồng không còn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Tuấn Dương, sinh ngày 24/3/2008. Hiện nay cháu Dương đang ở cùng với mẹ đẻ anh tại khu 1, TT Phong Châu, huyện Phù Ninh (trước khi anh bị bắt cháu ở cùng anh và mẹ anh).
Nếu ly hôn anh xin được cháu Dương và không yêu cầu chị Ngọc phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Trịnh Thị Thúy Ngọc có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Phạm Văn Minh và đề nghị Tòa án giải quyết về con chung khi ly hôn. Do đó đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngọc và anh Minh kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ phù hợp với Luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo chị Ngọc trình bày thì vợ chồng mâu thuẫn là do anh Minh chơi bời, nghiện ma túy đã được đi cai nghiện và lại tái nghiện. Về phia anh Minh cũng thừa nhận quá trình
́
chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị tự ý đi nước ngoài mà không được sự đồng ý của anh. Như vậy cả hai anh chị đều thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân đã xảy ra những mâu thuẫn và không thể hòa giải được. Từ năm 2015 đến nay vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm gì đến nhau và cũng không còn quan hệ về mặt tình cảm. Quá trình giải quyết vụ án cả hai anh chị đều nhất trí ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ngọc và anh Minh đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó cần xử cho chị Ngọc được ly hôn với Minh là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Cả chị Ngọc và anh Minh xác nhận là vợ chồng có 01 con chung là Phạm Tuấn Dương, sinh ngày 24/3/2008. Hiện nay cháu Minh đang ở cùng với mẹ đẻ anh Minh tại khu 1, TT Phong Châu, huyện Phù Ninh (Trước khi anh Minh bị bắt, cháu Dương ở cùng anh Minh và mẹ đẻ anh Minh). Khi ly hôn cả hai anh chị đều xin được nuôi con và không yêu cầu ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai. Xét thấy nguyện vọng xin được nuôi con của anh chị là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với pháp luật.Tại Bản tự khai cháu Dương cũng có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì cháu xin được ở với bố. Tuy nhiên, hiện nay anh Minh đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ và sẽ có thời gian phải đi chấp hành án nên sẽ không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Dương được. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho cháu Dương cần giao cho chị Ngọc trực tiếp nuôi dưỡng và anh Minh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Ngọc là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Trong quá trình giải quyết vụ án cả hai anh chị đều xác nhận là không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay mặc dù anh minh vắng mặt nhưng đã có đơn xin xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt đối với anh Minh
Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS nhân dân huyện Phù Ninh có quan điểm: Vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay tuân thủ đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đại điện VKS đề nghị Tòa án xử cho chị Trịnh Thị Thúy Ngọc và anh Phạm Văn Minh được ly hôn.
Về con chung: Đề nghị HĐXX giao cháu Phạm Tuấn Dương, sinh ngày 24/3/2008 cho chị Ngọc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Minh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Ngọc do chị Ngọc không yêu cầu.
Về án phí: Chị Ngọc phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 điều 56, điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, khoản 4 điều 147, khoản 1 điều 228, điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý vả sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử: Cho ly hôn giữa chị Trịnh Thị Thúy Ngọc và anh Phạm Văn Minh
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Trịnh Thị Thúy Ngọc trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Tuấn Dương, sinh ngày 24/3/2008 .
Anh Minh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Ngọc do chị Ngọc không yêu cầu.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không có.
- Về án phí: Chị Trịnh Thị Thúy Ngọc phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2018/0002360 ngày 09/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Chị Ngọc đã nộp đủ tền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Chị Trịnh Thị Thúy Ngọc có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Anh Phạm Văn Minh vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS ND tỉnh, huyện; - THADS huyện Phù Ninh; - Các đương sự; - UBND TT Phong Châu; - Lưu: HS- VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Tạ Thị Hồng Ngân |