- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thanh H - Nguyễn Tiến K"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Tiến K được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2020/HNGĐ - ST Ngày: 20-5-2020 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Xuân Trường
+ Bà Pang Ting Suyl
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khắc Duy – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 390/2020/TLST-HNGĐ ngày 10/12/2019 về việc: “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2020/QĐXX
- ST ngày 05 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H
sinh năm: 2000
Địa chỉ: Thôn 3, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến K
sinh năm: 1994
Địa chỉ: Thôn 2, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh K xây dựng gia đình với nhau năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cướ i theo phong tu ̣c tâ ̣p quán , có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M. Cuộc sống chung hòa thuận hạnh phúc được mô ̣t thờ i gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân khiến vợ chồng mâu thuẫn chủ yế u là do anh K nghiê ̣n chơi game, không quan tâm đến chị, vợ chồng đa sỗ ́ng ly thân từ tháng 8/2019 cho đến nay. Chị H xác định không còn tình cảm với anh K nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn vớ i anh Nguyễn Tiến K. Về con chung, tài sản chung và nợ chung chị H xác định không có không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Tiến K trình bày: Anh và chị H xây dựng gia đình với nhau vào tháng 5/2019, trên cơ sở hôn nhân tự nguyê ̣n, có tổ chức lễ cướ i theo phong tu ̣c tâ ̣p của đi ̣a phương và có đăng ký kết hôn ta ̣i Ủy ban nhân dân xã M, huyê ̣n Lâm Hà. Vợ chồng chung sống hoà thuâ ̣n, hạnh phúc đến tháng 7/2019 thì phát sinh mâu thuẫn và chị H tự ý bỏ về nhà me ̣ đẻ sinh sống từ tháng 8/2019 cho đến nay. Anh đa ̃ 02 lần đến nhà vợ để nói vợ về chung sống nhưng chị H không đồng ý. Anh đa liêñ lạc với chị H qua điê ̣n thoa ̣i nhưng chị H chă ̣n số điê ̣n thoa ̣i, facebook, zalo của anh nên anh không thể liên la ̣c vớ i chị H để hàn gắn tình cảm vợ chồng . Nay chi ̣ H yêu cầu ly hôn thi anh K xác định mâu thuẫn vợ chồng đa kẽ ́o dài, mục đích hôn nhân
̀ không đa ̣t được nên anh đồng ý ly hôn theo yêu của chi ̣ H. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Anh K xác định không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Tuy nhiên, anh K yêu cầu chị H phải trả cho anh các khoản chi phí cho việc đám cưới theo văn bản yêu cầu trả lại tiền ghi ngày 10/3/2020, gồm: Tiền trang điểm là 9.800.000đ; 02 chỉ vàng 9999; 4.050.000đ tiền lễ (được đựng trong 02 phong bì) và 2.000.000đ tiền khám bệnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham giá tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh K. Về con chung, tài sản chung và nợ chung đề nghị không xem xét trong vụ án này. Đối với việc anh K yêu cầu chi ̣ H phải trả lại cho anh các khoản chi phí cho việc đám cưới gồm: Tiền trang điểm là 9.800.000 đồng; 02 chỉ vàng 9999; 4.050.000 đồng tiền lễ . Chị H thừ a nhâ ̣n có giữ 01 chỉ vàng 9999 và đồng ý trả lại cho anh K 01 chỉ vàng 9999. Do vâ ̣y ghi nhâ ̣n và buô ̣c chị H trả lại cho anh K 01 chỉ vàng 9999. Đề nghị không chấp yêu cầu của anh K đối với Tiền trang điểm là 9.800.000 đồng, 4.050.000 đồng tiền lễ . Đề nghị đinh
̀ chỉ yêu cầu về số tiền khám chữa bệnh là 2.000.000 đồng của anh K. Về án phí: Đề nghị buộc chị H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, buộc anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương đương với yêu cầu không được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thi ̣ H và anh Nguyễn Tiến K xây dựng gia đinh vớ i nhau vào năm 2019, trên cơ sở tim hiểu tự nguyê ̣n , có tổ chức lễ cưới
̀
̀
theo phong tu ̣c tâ ̣p quán và có đăng ký kết hôn ta ̣i Uỷ ban nhân xã M, xã huyê ̣n Lâm Hà , tỉnh Lâm Đồng vào ngày 08/5/2019. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuâ ̣n, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nên cả hai đã sống ly thân từ tháng 8/2019 cho đến nay nên chi ̣ H là đơn yêu cầu ly hôn và anh K cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H. Xét thấy, vợ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh K không lớn nhưng do vợ chồng tuổi còn trẻ nên cái tôi của mỗi người quá lớn không nhường nhịn nhau. Trong những lúc nóng giận không kiềm chế được các đương sự đã xúc phạm đến lòng tự trọng của nhau khiến cho mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Do không tim được biê ̣n pháp giải quyết nên hai vợ chồng
̀
đa sỗ ́ng ly thân thừ tháng 8/2019 cho đến nay. Mă ̣c dù thờ i gian sống ly thân đa lâũ nhưng cả hai không tim được biê ̣n pháp cải thiê ̣n tinh cảm vợ chồng, không còn liên
̀
̀ lạc và không quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án thì Toà án đã tiến hành xác minh tại địa phương thì được biết do các đương sự tuổi còn trẻ, suy nghĩ chưa chín chắn, khi xảy ra mâu thuẫn thì các đương sự xử sự không khéo léo nên làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng thêm trầm trọng, hiện các đương sự đã tự sống ly thân. Do vâ ̣y, nếu cứ tiếp tu ̣c kéo dài tinh trạng hôn nhân như hiện nay cũng không
̀
mang la ̣i ha ̣nh phúc cho các đương sự . Vì vậy, căn cứ theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 56 Luâ ̣t Hôn nhân và gia đinh , cần chấp nhâ ̣n đơn xin ly hôn của chị Nguyễn
̀ Thị H, xử cho chị H và anh K được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự đều xác định vợ chồng không có con chung, tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Đối với việc anh K yêu cầu chi ̣ H phải trả lại cho anh các khoản chi phí cho việc đám cưới gồm: Tiền trang điểm là 9.800.000 đồng; 02 chỉ vàng 9999; 4.050.000 đồng tiền lễ thì chi ̣ H thừ a nhâ ̣n có giữ 01 chỉ vàng 9999 và đồng ý trả lại cho anh K 01 chỉ vàng 9999. Do vâ ̣y ghi nhâ ̣n và buô ̣c chi ̣ H trả lại cho anh K 01 chỉ vàng 9999.
. Đối với số tiền trang điểm là 9.800.000 đồng; và 4.050.000 đồng tiền lễ thì chị H không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy chi phi cho viê ̣c trang điểm là do
́ hai bên gia đinh thoả thuâ ̣n khi tổ chứ c lễ cướ i cho con, viê ̣c này hoàn toàn phù
̀ hợp vớ i truyền thống và phong tu ̣c tâ ̣p quán của người Việt Nam. Đồng thời, số tiền này các đương sự thừa nhận đa dùng vào việc trang điểm, ảnh cưỡ
́ i của hai bên gia đinh. Còn số tiền lễ 4.050.000 đồng thì đây là số tiền mà gia đinh anh K khi
̀
̀ sang tổ chứ c lễ cướ i đa tự̃ nguyê ̣n đưa cho nhà chi ̣ H. Hơn nữa, theo chi ̣ H trình bày thì số tiền này đã chi phí hết cho đám cưới và thực tế lễ cưới đã được hoàn thành nên không có căn cứ chấp nhâ ̣n yêu cầu này của anh K.
. Đối với yêu cầu của anh K yêu cầu chi ̣ H phải trả cho anh số tiền
2.000.000 đồng tiền khám chữa bê ̣nh thi chi ̣ H cũng thừ a nhâ ̣n có viê ̣c đi khám
̀
bê ̣nh nhưng không đến 2.000.000 đồng. Tại biên bản hoà giải ngày 04/5/2020 thì anh K xác định rút yêu cầu đối với số tiền này , tại phiên tòa hôm nay anh K cũng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc trả lại anh K 01 chỉ vàng 9999.
Anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với yêu cầu không được chấp nhận là 18.710.000đồng x 5% = 935.500đồng (tính theo giá vàng ngày 20/5/2020 là 4.860.000đồng/1 chỉ).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Tiến K được ly hôn.
2/ Buộc chị Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả cho anh Nguyễn Tiến K 01 chỉ vàng 9999.
3/ Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Tiến K về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị H phải trả 13.850.000đồng và 01 chỉ vàng loại 9999.
4/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đồng về việc trả lại anh K 01 chỉ vàng 9999. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số AA/2016/0007074 ngày 10/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, còn lại chị H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Tiến K phải chịu 935.500đồng (chín trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ đi số tiền tạm ứng án phí anh K đã nộp là 508.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0007198 ngày 11/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, anh K phải tiếp tục nộp 427.500đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (20/5/2020) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Lâm Hà; - THA dân sự huyện Lâm Hà; - Ban tư pháp xã M; - Các đương sự; - Lưu HSVA. Các hội thẩm nhân dân Pang Ting Suyl Nguyễn Xuân Trường | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Quỳnh Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Như Quỳnh |