vanban.org

Bản án 16/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về hôn nhân: Tuyên bố anh Đỗ Văn H và chị Huỳnh Thị Hồng V không phải là vợ chồng.

[2]. Về con chung: Giao con chung tên tên Đỗ Văn H- sinh ngày 24/7/2008 cho anh Đỗ Văn H nuôi dưỡng, giao con chung tên Đỗ Hạo N - Sinh ngày 22/6/2015 cho chị Huỳnh Thị Hồng V nuôi dưỡng. Anh Đỗ Văn H, chị Huỳnh Thị Hồng V có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 86/2019/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn”"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về hôn nhân: Tuyên bố anh Đỗ Văn H và chị Huỳnh Thị Hồng V không phải là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 16/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 30- 3- 2020
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Quốc Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Đoan

2. Ông Điểu Toàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Đình Thuyên – Thư ký tòa án Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa : Ông Lê Quang Vân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 86/2019/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 16/03/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn H– Sinh năm 1987

Nơi cư trú: Tổ 2, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Hồng V– Sinh năm 1994

Nơi cư trú: Tổ 2, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

(Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có đơn giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 16/12/2019, bản tự khai ngày 27/12/2019, nguyên đơn anh Đỗ Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Văn H và chị Huỳnh Thị Hồng Vtự nguyện chung sống với nhau vào năm 2006 nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi sống chung vợ chồng sống hạnh phúc khoảng tới năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và hay cãi vả, không tìm được tiếng nói chung nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh Đỗ Văn H yêu cầu tòa án tuyên bố anh Đỗ Văn H và chị Huỳnh Thị Hồng V không phải là vợ chồng.

Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên Đỗ Văn H, sinh ngày 24/7/2008 và Đỗ Hạo N, sinh ngày 22/6/2015, vợ chồng không nhận ai làm

1

con nuôi. Khi Tòa án không công nhận vợ chồng, anh H yêu cầu nuôi con chung tên Đỗ Văn H, sinh ngày 24/7/2008, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H đồng ý cho chị V nuôi con chung tên Đỗ Hạo N, Sinh ngày 22/6/2015. Anh H không cấp dưỡng nuôi con tên Đỗ Hạo N.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 06/01/2020, bị đơn chị Huỳnh Thị Hồng V trình bày:

Năm 2006 chị V và anh H tự nguyện chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn, do sống không hợp nhau nên vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, hiện tại đã sống ly thân. Nay anh H yêu cầu tòa án không công nhận là vợ chồng thì chị V đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Văn H, sinh ngày 24/7/2008 và Đỗ Hạo N, sinh ngày 22/6/2015, vợ chồng không nhận ai làm con nuôi. Hiện tại chị V không mang thai. Khi Tòa án không công nhận vợ chồng, chị V yêu cầu nuôi con chung tên Đỗ Hạo N, sinh ngày 22/6/2015, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Chị V đồng ý cho anh H nuôi con chung tên Đỗ Văn H, sinh ngày 24/7/2008, chị V không cấp dưỡng nuôi con tên Đỗ Hạo N.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu:

Việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H không có ý kiến gì thêm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án cần tuyên bố không công nhận anh H và chị V là vợ chồng. Về con chung giao con chung tên Đỗ Văn H- sinh ngày 24/7/2008 cho anh H nuôi dưỡng, giao con chung tên Đỗ Hạo N- Sinh ngày 22/6/2015 cho chị V nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Đỗ Văn H khởi kiện chị Huỳnh Thị Hồng V yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhân là vợ chồng, do đó Tòa án xác định đây là quan hệ trang chấp “ly hôn” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị Hồng V có nơi cư trú tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2

[2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến tòa án viết bản trình bày ý kiến, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự chỉ trình bày ý kiến tại bản tự khai và chị V, anh H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 01 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Đỗ Văn H, chị Huỳnh Thị Hồng V là hôn nhân không hợp pháp do các bên chung sống như vợ chồng từ năm 2006 nhưng không đăng ký kết hôn, nên căn cứ Điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 cần tuyên bố không công nhận anh Đỗ Văn H và chị Huỳnh Thị Hồng V là vợ chồng.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Văn H- sinh ngày 24/7/2008; Đỗ Hạo N- Sinh ngày 22/6/2015, vợ chồng không nhận ai làm con nuôi. Khi ly hôn các đương sự thống nhất giao con chung tên Đỗ Văn H- sinh ngày 24/7/2008 cho anh H nuôi dưỡng, giao con chung tên Đỗ Hạo N- Sinh ngày 22/6/2015 cho chị V nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự, mặt khác nguyện vọng của con chung tên Đỗ Văn H là sống với anh H nên cần ghi nhận sự tự nguyện này.

Về tài sản chung, nợ chung: Tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Đỗ Văn H chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 01 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng các điều 53, 56, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Về hôn nhân: Tuyên bố anh Đỗ Văn H và chị Huỳnh Thị Hồng V không phải là vợ chồng.

3

[2]. Về con chung: Giao con chung tên tên Đỗ Văn H- sinh ngày 24/7/2008 cho anh Đỗ Văn H nuôi dưỡng, giao con chung tên Đỗ Hạo N - Sinh ngày 22/6/2015 cho chị Huỳnh Thị Hồng V nuôi dưỡng.

Anh Đỗ Văn H, chị Huỳnh Thị Hồng V có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Anh Đỗ Văn H chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001803 ngày 27/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước.

[6]. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Phước;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện H;

- Chi cục THADS huyện H;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Dương Quốc Thành

4

5

Cỡ chữ