- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim L
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2020/HNGĐ-ST Ngày: 17/3/2020 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Hoàng Phúc
2. Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên Tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 467/2019/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 12 năm 2019, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1976
Nơi cư trú: Số 35, đường Mạc Thị Bưởi, khu phố 9, TT.V, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
2. Bị đơn: Phạm Tấn P, sinh năm: 1974
Nơi cư trú: Số 35, đường Mạc Thị Bưởi, khu phố 9, TT.V, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
Tại phiên tòa: Anh Phạm Tấn P và chị Nguyễn Thị Kim L có đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 17/3/2020
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 12/11/2019, biên bản tự khai, biên bản hòa giải và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L trình bày: Chị và anh P tự nguyện tìm hiểu được 3 tháng thì đi đến kết hôn, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND TT.V vào năm 1998. Sau khi kết hôn thì anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P nghi ngờ chị có quan hệ bất chính với người đàn ông khác và đánh đập chị nhiều lần. Ngoài ra khi chung sống cùng nhau thì anh P đi làm không lo cho gia đình. Khi xẩy ra mâu thuẫn thì anh chị đã được chính quyền địa phương hòa giải. Ngoài ra vào tháng 10/2019 chị đã làm đơn khởi kiện tại Tòa án, nhưng chị đã rút đơn để anh P thay đổi sửa chữa nhưng anh P không thay đổi sửa chữa. Hiện nay anh chị vẫn chung sống cùng nhà, nhưng chị xác định không còn tình cảm với anh, chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn
Theo biên bản tự khai, biên bản hòa giải có trong hồ sơ, bị đơn anh Phạm Tấn P trình bày: Về quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn thì chị L trình bày hoàn toàn đúng, còn về nguyên nhân mâu thuẫn thì anh thừa nhận anh có nghi ngờ chị có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Vì vậy anh chị thường xuyên xẫy ra mâu thuẫn. Nay chị L làm đơn khởi kiện ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn, vì con anh chị còn nhỏ.
-Về con chung: anh chị có 02 con chung
+Phạm Tấn L1, sinh năm: 1999
+Phạm Thanh Thủy T, sinh năm: 2005
Khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cháu T, không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Toàn án giải quyết
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật, lập và gửi các văn bản đúng quy định. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự luật định.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 17/3/2020 là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa, cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và các cháu. Vì vậy Hội đồng xét xử nên cho ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung, cháu L1 hiện đã trưởng thành, còn cháu T hiện đã trên 7 tuổi, cháu có lời khai là được ở với mẹ. Chị L có nguyện vọng nuôi cháu, thấy rằng chị L có sức khỏe tốt, có công việc và thu nhập ổn định.Vì vậy Hội đồng xét xử nên giao con (T) cho chị L nuôi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không cần phải xem xét trong bản án này.
Về án phí DSST: Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu án phí về việc ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn có trong hồ sơ và kết quả xác minh của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 12/11/2019 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Phạm Tấn P và chị Nguyễn Thị Kim L có đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 17/3/2020. Hội đồng xét xử xét thấy rằng nội dung và hình thức của đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.
Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Phạm Tấn P có đăng ký kết hôn vào ngày 17/4/1998 tại UBND TT.V. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật không cần phải chứng minh.
Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là anh P thường xuyên uống rượu, chửi mắng, nghi ngờ chị có quan hệ với người đàn ông khác. Ngoài ra, anh còn đánh đập chị nhiều lần, làm cho tình cảm vợ chồng sứt mẻ. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh P nữa và cương quyết ly hôn. Tòa án cũng đã kiên trì hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ nhưng anh P chỉ tham gia hòa giải một lần, còn những lần khác thì anh không hợp tác. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và các cháu. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Xét thấy chị L là người có sức khỏe, có tư cách đạo đức tốt, có nghề nghiệp thu nhập ổn định và có nguyện vọng trực tiếp nuôi con (T) sau khi ly hôn. Cháu Phạm Thanh Thủy T, hiện nay đã trên 7 tuổi, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy Hội xét xử quyết định giao cho chị L được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 là phù hợp với quy định tại khoản 2, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quyền thăm nom con: Để bảo đảm quyền lợi cho các cháu được phát triển tốt về thể chất và tinh thần, nhận được tình yêu thương đầy đủ từ cả cha lẫn mẹ, cần xem xét tuyên quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi chị L ly hôn với anh P. Anh Phạm Tấn P phải chấp hành đúng quy định về việc thăm nom con tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không phải xem xét trong bản án này.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị L là người khởi kiện ly hôn nên chị L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.
Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp vợi nội dung vụ án.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Áp dụng Điều 51, 56; khoản 2, Điều 81, khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim L
1/ Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L ly hôn anh Phạm Tấn P.
2/ Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kim L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con: Phạm Thanh Thủy T, sinh ngày: 21/7/2005. Anh Phạm Tấn P có quyền thăm nom con.
3/Về án phí DSST: Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000đồng án phí DSST, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 0003262 ngày 18/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị L đã nộp đủ án phí DSST.
4/ Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
5/ Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đức Linh; - Thi hành án DS huyện Đức Linh; - Các đương sự;. -UBND TT.V. -Lưu hồ sơ, quyết định./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đỗ Xuân Thuận |