vanban.org

Bản án 16/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Tr. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim Trúc - Nguyễn Đức Hà Long ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ M’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂK LĂK
Bản án số: 16/2020/HNGĐ-ST
Ngày 10/7/2020
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đinh”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Y Lợi Niê.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tha Mlô, ông Nguyễn Đăng Lân

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung - Thư ký Toà án nhân dân

huyện CM, tỉnh ĐL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư M’ar, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2020/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2020 về "tranh chấp về hôn nhân" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2020/QĐXX-ST ngày 08/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/6/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Tr – Sinh năm: 1990

(Có mặt) Địa chỉ: Số nhà 42 – thôn 6, xã CS, huyện CM, tỉnh ĐL.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Hà L – Sinh năm: 1986

(Vắng mặt) Đại chỉ: Thôn 1, xã CS, huyện CM, tỉnh ĐL.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn chị Tr trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim Tr và anh Nguyễn Đức Hà L chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND Xã CS vào ngày 28/02/2017. Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Bảo H, sinh ngày 08/12/2017, hiện cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang sống cùng chị Nguyễn Thị Kim Tr.

Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, đến khoảng tháng 4 năm 2018 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L liên tục uống rượu, gây gỗ đánh đập vợ con, chị Tr đã nhiều lần khuyên nhủ và chịu đựng nhưng anh L vẫn chừng nào tật đó, đến thời gian tháng 04/2019 do sức chịu đựng có hạn nên chị Tr bồng con về nhà mẹ đẻ sinh sống. Đến khoảng tháng 12/2019 và đầu năm 2020 chị Tr nhiều lần yêu cầu địa phương can thiệp, hòa giải nhưng anh L không thiện chí hòa giải và vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2019 cho đến nay, nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, hôn nhân không hạnh phúc và không còn khả năng để hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho chị Nguyễn Thị Kim Tr và anh Nguyễn Đức Hà L.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Bảo H, sinh ngày 08/12/2017, hiện cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang sống cùng chị Nguyễn Thị Kim Tr. Kể từ khi ly thân đến nay anh L không quan tâm và không có trách nhiệm với con, không cấp dưỡng nuôi con. Chị Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung đến khi cháu đủ 18 tuổi và không cần anh L nuôi cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án LHST: Chị Tr phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị đơn anh L:

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã nhiều lần Tòa án niêm yết giấy báo, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho anh L theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh L cố tình lẩn tránh, không đến tòa làm việc nên không ghi nhận được lời khai cũng như ý kiến của anh L.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng:

Đối với Thẩm phán: Về cơ bản đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.

Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Đối với đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không đến Tòa án tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật mà không có lý do chính đáng.

Về nội dung: Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, cần được chấp nhận, đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện CM đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng hợp lệ cho bị đơn là anh Nguyễn Đức Hà L nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt anh L.

. Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Kim Tr kết hôn với anh Nguyễn Đức Hà L trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND Xã CS vào ngày 28/02/2017, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đỉnh điểm là đến tháng 4 năm 2019, vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay.

Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết án Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương về tình hình cư trú và tình trạng hôn nhân giữa chị Tr và anh L thì cho thấy hai người có quan hệ là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại địa phương; về tình cảm vợ chồng hiện nay đang có mâu thuẫn và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2019 cho đến nay. Tại phiên tòa chị Tr vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh L vì cho rằng mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu, nay xét tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh L, yêu cầu của chị Tr là có cơ sở phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Kim Tr và Nguyễn Đức Hà L có với nhau một con chung là cháu Nguyễn Bảo Hà, sinh ngày 08/12/2017, hiện cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang sống cùng chị Nguyễn Thị Kim Tr.

Hội đồng xét xử xét thấy: Kể từ khi chị Tr và anh L sống ly thân đến nay cháu Nguyễn Bảo H là do chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng, anh L không có trách nhiệm gì, nay chị Tr yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi các con chung đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Về cấp nghĩa vụ dưỡng nuôi con: Do chị Tr không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con đây là ý chí tự nguyện của chị Tr nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Tr phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 3 Điều 36; khoản 4 Điều 147; b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Tr.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim Tr được ly hôn với anh Nguyễn Đức Hà L.

Về con chung: Giao Nguyễn Bảo H, sinh ngày 08/12/2017 cho chị Nguyễn Thị Kim Tr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp nghĩa vụ dưỡng nuôi con: Chị Tr không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

Anh Nguyễn Đức Hà L được quyền đi lại, thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản quyền này.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim Tr phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2019/0004342 ngày 21/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh ĐăkLăk.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ