vanban.org

Bản án 16/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thái Ngọc H.

Về hôn nhân: Xử cho chị Thái Ngọc H và anh Thạch C được ly hôn. Về nuôi con: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Thái Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thái Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 16/2020/HNGĐ-ST
Ngày 26/5/2020.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Thanh Chúc.

Ông Kim Na Rinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chung Hữu Toàn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tấn An – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2020/TLST-HNGĐ, ngày 04/02/2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST-HN, ngày 23/4/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2020/QĐST-HN, ngày 08/5/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thái Ngọc H, sinh năm 1995. Có mặt.

Hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Chỗ ở hiện nay: Lô II, 6A, đường CN13, khu CNT, phường T, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Anh Thạch C, sinh năm 1986. Vắng mặt không lý do.

Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/01/2020 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Thái Ngọc H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh C xác lập hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 29/10/2014, tại UBND xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn, khi tiến đến hôn nhân, chị và anh C quen nhau khoảng 01 năm, có tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán. Vợ chồng chung sống đến tháng 8 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống khó khăn, anh làm việc 01 xưởng Công ty may và sống tại đó, chị làm việc 01 xưởng Công ty may và sống tại Công ty, cách khoảng 10 km, khoảng một tuần lễ vợ chồng mới gặp nhau một lần, nhưng anh không quan tâm đến gia đình, mà thường xuyên uống rượu đi suốt đêm, chị khuyên thì anh chửi và đánh chị nhiều lần, bất hòa thường xuyên xảy ra, sống không có hạnh phúc, sự việc kéo dài đến tháng 8 năm 2018, do anh C không sửa đổi tính tình nên vợ chồng không chung sống với nhau và ly thân cho đến nay. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

- Về nuôi con tên: Thạch Thái D, sinh ngày 03/12/2014. Chị H xin được quyền nuôi dưỡng con khi ly hôn.

- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Chị không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa lần thứ 02, anh Thạch C là bị đơn trong vụ án vắng mặt lần thứ hai, không lý do nên không có lời trình bày.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên.

- Về việc tuân theo pháp luật: Thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ cho các đương sự nhận. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chị H và anh C được ly hôn với nhau, giao con tên Thạch Thái D, sinh ngày 03/12/2014 cho chị H được quyền nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả, do các đương sự không tranh chấp, không khởi kiện nên không xem xét giải quyết. Buộc chị H phải nộp 300.000 đồng án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1]. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy anh C là bị đơn trong vụ án, tại phiên tòa anh C vắng mặt lần thứ hai, không lý do. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo quy định pháp luật.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy chị H khởi kiện anh C yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh C, chị xin được quyền nuôi dưỡng con khi ly hôn, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác. Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn:

- Về hôn nhân: Xét thấy chị H, anh C xác lập hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 29/10/2014, tại UBND xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn, từ đó xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng:

Chị H khai: Quá trình chung sống đến tháng 8 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm về lối sống và ứng xử giao tiếp, cuộc sống khó khăn, anh C và chị mỗi người làm thuê ở Công ty may khác nhau và sống tại đó, khoảng 01 tuần mới gặp nhau, nhưng anh C thường xuyên uống rượu đi suốt đêm, chị góp ý thì anh chửi và đánh chị, bất hòa thường xuyên xảy ra, sống không có hạnh phúc, do anh C không sửa đổi tính tình, sự việc kéo dài đến tháng 08 năm 2018, chị chấm dứt tình cảm với anh C và ly thân cho đến nay. Tại phiên tòa chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

Đối với anh C, Tòa án giao Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh C nhận 02 lần, nhưng anh C đều vắng mặt không lý do, nên phiên hòa giải đoàn tụ không tiến hành được, hôm nay tại phiên tòa lần thứ hai, anh C tiếp tục vắng mặt không lý do và anh cũng không gửi văn bản ý kiến của mình về quan hệ hôn nhân mà chị H yêu cầu giải quyết.

Xét thấy khi mâu thuẫn xảy ra từ tháng 8 năm 2018 đến nay, chị H và anh C đều bỏ mặt, mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến tình nghĩa vợ chồng, đã ly thân nhau gần 02 năm, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và cương quyết ly hôn không chung sống với anh C, làm cho mâu thuẫn vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chị H và anh C được ly hôn với nhau là phù hợp quy định pháp luật.

- Về nuôi con: Xét thấy chị H, anh C chung sống sinh 01 người con tên Thạch Thái D, sinh ngày 03/12/2014. Thời gian ly thân từ tháng 08 năm 2018 đến nay, cháu D sống với chị H và được chị H nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo về mọi mặt. Quá trình giải quyết vụ án, anh C đều vắng mặt, anh không gửi văn bản cho Tòa án biết ý kiến của anh về quyền nuôi dưỡng con chung và tại phiên tòa hôm nay chị H xin được quyền nuôi dưỡng con. Căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu D cho chị H được quyền nuôi dưỡng khi ly hôn là phù hợp với quy định pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Chị H không tranh chấp, không khởi kiện. Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Thái Ngọc H nộp 300.000 đồng.

. Xét lời trình bày của Kiểm sát viên về trình tự thủ tục tố tụng và hướng giải quyết vụ án nêu trên là phù hợp với quy định pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 147, 227, 228; 235, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thái Ngọc H.

- Về hôn nhân: Xử cho chị Thái Ngọc H và anh Thạch C được ly hôn.

- Về nuôi con:

+ Chị Thái Ngọc H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con tên Thạch Thái D, sinh ngày 03/12/2014 khi ly hôn.

+ Anh Thạch C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trỡ người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Thái Ngọc H tự nguyện nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005651, ngày 31/01/2020 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu. Chị Thái Ngọc H đã nộp đủ án phí.

- Về quyền kháng cáo:

+ Chị Thái Ngọc H có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Anh Thạch C vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày anh nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ