- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Hợp đồng mua bán"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Bích L – Chủ Cửa hàng Phân bón - Thuốc trừ sâu S.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 16/2020/DSST Ngày: 16/7/2020 V/v “tranh chấp hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Triều
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Hoàng Cảnh
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:10/2020/TLST-DS ngày 13/01/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2020/QĐXXST-DS ngày 10/6/2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 53/2020/QĐST-DS ngày 29/6/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Bích L, sinh năm 1983 – Chủ Cửa hàng Phân bón - Thuốc trừ sâu Sáu Thành.
Cư trú: Tổ 1, ấp V H, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc E, sinh năm 1964 (có mặt)
Địa chỉ: Số 287C, tổ 15, khóm B 3, phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (văn bản ủy quyền ngày 17/02/2020)
2. Bị đơn: Ông Trần Hoàng G, sinh năm 1970 (có mặt).
Bà Võ Thị P, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Cư trú: Ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Dương Thị Bích L – Chủ Cửa hàng Phân bón - Thuốc trừ sâu Sáu Thành do ông Nguyễn Ngọc E đại diện theo ủy quyền trình bày: Vào vụ Đông Xuân năm 2015, vợ chồng ông Trần Hoàng G, bà Võ Thị P có mua phân bón thuốc trừ sâu tại Cửa hàng Phân bón - Thuốc trừ sâu Sáu Thành nợ số tiền 130.000.000 đồng. Ngày 17/02/2017 ông Giang viết cam kết hẹn bán nhà, đất xong sẽ trả nhưng đến nay vẫn không thực hiện.
Nay nguyên đơn yêu cầu ông Trần Hoàng G, bà Võ Thị P có trách nhiệm trả cho bà Dương Thị Bích L – Chủ Cửa hàng Phân bón - Thuốc trừ sâu Sáu Thành số tiền là 130.000.000 đồng không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn ông Trần Hoàng G trình bày: Vợ chồng tôi thừa nhận có mua phân bón, thuốc trừ sâu của Cửa hàng Phân bón - thuốc trừ sâu Sáu Thành do bà Dương Thị Bích L làm chủ. Mục đích mua phân bón, thuốc trừ sâu về sản xuất nông nghiệp. Quá trình mua có nợ, có trả. Tính đến thời điểm ngày 17/02/2017 vợ chồng tôi còn nợ bà Dương Thị Bích L số tiền 130.000.000 đồng. Nay bà Dương Thị Bích L yêu cầu vợ chồng tôi trả số tiền 130.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi thì vợ chồng tôi có ý kiến như sau: Thừa nhận còn thiếu 130.000.000 đồng, nhưng do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án, các đương sự cũng chấp hành đúng với quy định của pháp luật; riêng bị đơn bà Võ Thị P vắng mặt lần thứ hai không lý do. Về trình tự thụ lý, biên bản tống đạt, việc tuân theo pháp luật đảm bảo theo đúng trình tự quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, qua xem xét toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị Bích L – Chủ Cửa hàng Phân bón - Thuốc trừ sâu S. Buộc ông Trần Hoàng G, bà Võ Thị P có trách nhiệm trả cho bà Dương Thị Bích L số tiền 130.000.000 đồng. Do nguyên đơn rút yêu cầu tính lãi suất nên đình chỉ yêu cầu tính lãi của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp dân sự hợp đồng mua bán; bị đơn ông Trần Hoàng G, bà Võ Thị P cư trú tại ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Bà L ủy quyền cho ông E tham gia tố tụng, văn bản ủy quyền của đương sự phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận. Tại phiên tòa, bà Võ Thị P vắng mặt, Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần, do vậy căn cứ vào khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà P theo thủ tục chung.
Về nội dung: Bà Dương Thị Bích L – Chủ Cửa hàng Phân bón - Thuốc trừ sâu S khởi kiện yêu cầu ông Trần Hoàng G, bà Võ Thị P có nghĩa vụ trả số tiền 130.000.000 đồng tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu còn thiếu. Chứng cứ nguyên đơn đưa ra là Tờ cam kết trả nợ ngày 17/02/2017 và sự thừa nhận của bị đơn.
Xét thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn thống nhất nhau về số tiền bị đơn mua phân bón thuốc trừ sâu của nguyên đơn còn nợ là 130.000.000 đồng. Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ là có căn cứ.
Về lãi suất: Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu trả vốn và lãi suất theo quy định pháp luật, tuy nhiên tại phiên Tòa, nguyên đơn xin rút lại yêu cầu tính lãi. Xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận và đình chỉ yêu cầu tính lãi của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn xin được trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ nhưng không được nguyên đơn chấp nhận. Nếu hoàn cảnh của ông G, bà P thật sự có khó khăn thì sẽ được xem xét ở giai đoạn thi hành án.
Về án phí sơ thẩm: Do bị buộc trả nợ nên ông Trần Hoàng G, bà Võ Thị P phải chịu án phí theo qui định pháp luật.
Lẽ ra phải buộc ông G, bà P phải chịu án phí 5% trên số tiền phải trả, nhưng do ông G có đơn xin miễn giảm án phí được chính quyền địa phương xác nhận nên được miễn một phần án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 177, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Bích L – Chủ Cửa hàng Phân bón - Thuốc trừ sâu S.
Buộc ông Trần Hoàng G, bà Võ Thị P có trách nhiệm trả cho bà Dương Thị Bích L – Chủ Cửa hàng Phân bón - Thuốc trừ sâu Sáu Thành số tiền 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).
Đình chỉ yêu cầu tính lãi suất của bà Dương Thị Bích L – Chủ Cửa hàng Phân bón - Thuốc trừ sâu Sáu Thành.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Hoàng G, bà Võ Thị P phải chịu 3.250.000 đồng (ba triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Bà Dương Thị Bích L – Chủ Cửa hàng Phân bón - Thuốc trừ sâu Sáu Thành không phải chịu án phí nên được nhận lại số tiền 3.250.000 đồng (Ba triệu đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000738, ngày 13 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã (thị trấn) nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS H.Thoại Sơn; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |