- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Ngọc D - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Ngọc D (Tên gọi khác: Du) phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HS-ST Ngày: 07-5-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Màu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Kim Tuyết
Ông Trần Công Lập
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Tiếm – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Chí Nhơn - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Thị Ngọc D (Tên gọi khác: Du), sinh năm: 1988 tại Mang Thít, Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp Phú Thọ, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Trần Thị B; chồng Hoàng Phúc H và có 01 con sinh năm 2012; anh chị em ruột có 02 người; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2018 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Chị Hu nh Thị Bích T (Xu), sinh năm 1979; Vắng mặt
Nơi cư trú: p Đông Hưng 1, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
2. Chị Lý Thị Bé Th (Qu ), sinh năm 1991; Vắng mặt
Nơi cư trú: p Bình Long, xã Bi, huyện C, An Giang.
Ch ở hiện nay: Khóm 2, phường C, thị xã Bi, Vĩnh Long.
3. Bà Trần Thị B, sinh năm 1959; Có mặt
Nơi cư trú: p Phú Thuận B, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
4. Bà Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1967; Có mặt
Nơi cư trú: T 1, khóm 4, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ ngày 15/11/2018 Đội cảnh sát hình sự - Công an thị xã Bình Minh kết hợp cùng Phòng cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long đến kiểm tra bắt quả tang quán cà phê “3 Con Mèo” thuộc t 1, khóm 4, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long do Trần Thị Ngọc D làm chủ có 02 cặp nam nữ đang mua bán dâm trong phòng của quán.
Kiểm tra tại phòng thứ 2 (tính từ ngoài vào) phát hiện tiếp viên Hu nh Thị Bích T, sinh năm: 1979 ngụ t 1, ấp Đông Hưng 1, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long đang bán dâm cho Nguyễn Văn H, sinh năm: 1975 ngụ ấp Thành Tâm, xã T, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long. Tang vật thu giữ gồm có:
- 01 (Một) bao cao su hiệu ERO Beauti Dream đã qua sử dụng.
- 02 (Hai) bao cao su hiệu ERO Beauti Dream chưa sử dụng.
- Số tiền: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
- Tạm giữ của Hu nh Thị Bích T số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).
Kiểm tra tiếp phòng thứ 3 (tính từ ngoài vào) phát hiện tiếp viên Lý Thị Bé Th, sinh năm: 1991 ngụ ấp Bình Long 1, xã B, huyện C, tỉnh An Giang đang bán dâm cho Nguyễn Văn Hù, sinh năm: 1972 ngụ ấp Thành Nhân, xã T, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long. Tang vật thu giữ gồm có:
- 06 (Sáu) bao cao su hiệu Sure chưa sử dụng
- Số tiền: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
Trở lại kiểm tra phòng thứ nhất (từ ngoài đi vào) là phòng ngủ của D thu giữ 30 (Ba mươi) bao cao su hiệu ERO Beauti Dream chưa sử dụng.
Kiểm tra trong giỏ xách của D tạm giữ:
- Số tiền: 1.540.000đ (Một triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng).
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO.
- 02 (Hai) bao cao su hiệu Free men chưa sử dụng.
- 01 (Một) giấy phép kinh doanh ghi buôn bán quán nước giải khát và 01 (Một) hợp đồng thuê nhà.
Qua quá trình điều tra thì Trần Thị Ngọc D khai nhận: Vào khoảng tháng 5/2018 Trần Thị Ngọc D đến thuê nhà của chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1967 ở t 1, khóm 4, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long rồi mở quán cà phê đặt tên là “3 Con Mèo”, do buôn bán ế ẩm nên đến tháng 10/2018 có tiếp viên T và Th đến quán nói với D là: “cho T và Th vào massage kích dục và bán dâm cho khách tại 02 phòng bên trong quán để thu tiền” thì D đồng ý nên T và Th thỏa thuận với D là: “01 lần massage kích dục với giá 120.000đ thì tiếp viên đưa cho D 40.0000đ, còn bán dâm cho khách thì do tiếp viên tự thỏa thuận với khách mỗi lần bán dâm từ 200.000đ đến 300.000đ, sau khi bán dâm xong thì đưa cho D 50.000đ.” thì D đồng ý nên từ đó T và Th bán dâm cho khách tại quán.
Tiếp viên Hu nh Thị Bích T và Lý Thị Bé Th massage kích dục và bán dâm tại quán được hơn 01 tháng, không hưởng lương chỉ thu nhập từ việc massage và bán dâm cho khách, đến ngày 15/11/2018 đang bán dâm cho khách thì bị bắt quả tang.
Qua làm việc T và Th đều thừa nhận từ tháng 10/2018 bắt đầu massage kích dục và bán dâm cho khách tại quán “3 Con Mèo”, m i tiếp viên bán dâm khoảng 05 lần và massage kích dục khoảng 10 lần thì bị bắt quả tang.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSBM ngày 08/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh đã truy tố Trần Thị Ngọc D để xét xử về tội “Chứa mại dâm” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:
Bị cáo Trần Thị Ngọc D đã khai nhận cáo trạng nêu đúng sự việc xảy ra và đúng theo lời khai của bị cáo và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét có đủ căn cứ để kết luận bị cáo phạm tội “Chứa mại dâm” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s, l khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc D từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù, phạt b sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung vào công quỹ nhà nước. Đồng thời xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thị Ngọc D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 20 giờ ngày 15/11/2018 Đội cảnh sát hình sự - Công an thị xã Bình Minh kết hợp cùng Phòng Cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long bắt quả tang quán cà phê “3 Con Mèo” do Trần Thị Ngọc D làm chủ có chứa tiếp viên Hu nh Thị Bích T và Lý Thị Bé Th đang bán dâm cho khách tại phòng thứ hai và thứ ba trong quán thì bị bắt quả tang.
Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến thuần phong mỹ tục, nhân phẩm, đạo đức xã hội, nếp sống văn minh và sức khoẻ của con người đồng thời xâm phạm đến trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo đã sử dụng phòng số 02 và số 03 trong quán đang thuộc quyền quản lý của mình để chứa chấp cho khách và tiếp viên thực hiện việc massage kích dục và bán dâm tại quán nhiều lần trong thời gian hơn 01 tháng nh m để thu lợi bất chính. Hành vi bị cáo cần được pháp luật trừng phạt nghiêm, buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục cho bị cáo trở thành người công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải l i của mình gây ra; bị cáo có bác tên Trần Văn Ch là liệt sĩ được phong tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; mẹ ruột tên Trần Thị B (cựu chiến binh được tặng B ng khen của Thủ tướng chính phủ); gia đình bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính của bị cáo từ việc chứa mại dâm nên cần áp dụng điểm s, l khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bao cao su hiệu ERO Beauti Dream đã qua sử dụng, 02 bao cao su hiệu ERO Beauti Dream chưa sử dụng, 06 bao cao su hiệu Sure chưa sử dụng thu giữ lúc bắt quả tang cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 300.000đ thu tại phòng thứ 2 và 300.000đ thu tại phòng thứ 3 là tiền bán dâm của 02 tiếp viên nên cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
- Đối với 30 bao cao su hiệu ERO Beauti Dream chưa sử dụng và 02 bao cao su hiệu Free men chưa sử dụng thu của bị cáo D dùng để sử dụng riêng không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với số tiền 1.540.000đ, 01 điện thoại di động hiệu OPPO (F3) có số Imel 865251038373232, có vỏ màu trắng – vàng nhạc, có óp lưng hình con bướm thu của bị cáo D không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo D.
- Đối với số tiền 4.000.000đ thu giữ của Hu nh Thị Bích T là tiền riêng của T không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho T.
- Đối với 01 giấy phép kinh doanh ghi buôn bán nước giải khát và 01 hợp đồng thuê nhà thu lúc bắt quả tang cần đưa vào hồ sơ làm chứng cứ (vì 02 giấy này không còn giá trị sử dụng).
- Đối với Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Hù cùng với tiếp viên Hu nh Thị Bích T và Lý Thị Bé Th có hành vi mua bán dâm tại quán “3 con mèo” nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thị xã Bình Minh đã ra quyết định xử phạt hành chính là đủ.
- Trong thời gian chứa mại dâm thì bị cáo D thu lợi bất chính được khoảng 1.300.000đ, đã được bà B (là mẹ của bị cáo D) giao nộp cho CQĐT thu giữ xong, nên cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Ngọc D (Tên gọi khác: Du) phạm tội “Chứa mại dâm”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s, l khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 38, khoản 5 Điều 327 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Trần Thị Ngọc D (Du) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Cộng với t ng hợp hình phạt của Bản án số 02/2019/HS-ST ngày 21/2/2019 của Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Vậy bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/11/2018.
Phạt b sung bị cáo số tiền là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) buộc bị cáo phải nộp để tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su hiệu ERO Beauti Dream đã qua sử dụng, 02 bao cao su hiệu ERO Beauti Dream chưa sử dụng, 06 bao cao su hiệu Sure chưa sử dụng thu giữ lúc bắt quả tang.
- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) thu tại phòng thứ 2 và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) thu tại phòng thứ 3 là tiền bán dâm của 02 tiếp viên.
- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước số tiền 1.300.000đ (Một triệu ba trăm ngàn đồng) tiền thu lợi bất chính, số tiền này đã được bà B (là mẹ của bị cáo D) giao nộp cho CQĐT thu giữ xong.
- Hoàn trả cho bị cáo D 30 bao cao su hiệu ERO Beauti Dream chưa sử dụng và 02 bao cao su hiệu Free men chưa sử dụng do không liên quan đến vụ án.
- Hoàn trả cho bị cáo D số tiền 1.540.000đ (Một triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng), 01 điện thoại di động hiệu OPPO (F3) có số Imel 865251038373232, có vỏ màu trắng – vàng nhạc, có óp lưng hình con bướm thu của bị cáo Diên không liên quan đến vụ án.
- Hoàn trả cho Hu nh Thị Bích T số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) thu giữ do không liên quan đến vụ án (CQĐT đã trả xong).
- Kiến nghị Phòng Tài Chính – Kế hoạch thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xem xét thu hồi 01 giấy phép kinh doanh số 54.D.8.006111 cấp cho hộ kinh doanh Trần Thị Ngọc D.
- Tịch thu lưu hồ sơ làm chứng cứ 01 hợp đồng thuê nhà thu lúc bắt quả tang.
(Tiền và vật chứng trên do Cơ quan thi hành án dân sự thị xã Bình Minh đang tạm giữ theo biên bản ngày 09/4/2019, biên lai thu tiền số 001410 ngày 09/4/2019).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc D (Du) phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày giao bản án hoặc niêm yết tại chính quyền địa phương, có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TVL; - CA, VKS, THADS TXBM; - Sở Tư Pháp tỉnh Vĩnh Long; - Trại giam, Bị cáo, các đ/s; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Màu |