vanban.org

Bản án 16/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L phạm tội “T ng trữ trái phép ch t ma túy”.

/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn ch p h nh hình phạt tù tính từ ng y 06/7/2018. / Về vật chứng của vụ án, tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐỖ NGUYỄN KIM LÂN - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L phạm tội “T ng trữ trái phép ch t ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2019/HS-ST
Ngày: 24-01-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Hùng Dương;

2. Ông Thượng Văn Kịnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: B Lưu Kim Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 302/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

H v tên: Đỗ Nguyễn Kim L (tên g i khác Ba L), sinh năm 1995, tại: B; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G29/87, khu 10, phường C, th nh phố T, tỉnh B; nghề nghiệp: không; trình độ h c v n: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn S và bà Nguyễn Thị Ng c H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị bắt ng y 06/7/2018 v tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: B Đỗ Thị Ng c Đ, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 182B, p P, xã A, thị xã T, tỉnh B, vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Trần Anh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 45 phút ng y 06/7/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương phối hợp với Công an phường Phú Cường đang tuần tra trên khu vực phường Phú Cường, th nh phố Thủ Dầu Một, Bình Dương thì phát hiện, bắt quả tang Đỗ Nguyễn Kim L đang có h nh vi t ng trữ trái phép ch t ma túy trong ngăn bên trái phía trước xe mô tô biển số 61C1 - 780.32 tại hẻm 159, khu 2, phường Phú Cường, th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, thu giữ: 01 (một) gói nilon miệng kéo dính bên trong có chứa tinh thể m u trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone m u đen có sim số thuê bao 0163.7230628; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung m u đen có sim số thuê bao 0984.632.433; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 61C1 - 780.32, số khung 112XHK259053, số máy KF11E2256072. Sau đó, lực lượng Công an đưa L về trụ sở l m việc. Tại đây, L khai nhận L còn c t gi u 01 (một) gói nilon miệng kéo dính bên trong có chứa ma túy tại nh của L, địa chỉ số G29/87, khu 10, phường C, th nh phố T, tỉnh B.

Cùng ng y 06/7/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã ra Lệnh khám xét khẩn c p số 11, tiến h nh khám xét nh của L tại địa chỉ số G29/87, khu 10, phường C, th nh phố T, tỉnh B, thu giữ: 01 (một) gói nilon miệng kéo dính, bên trong có chứa tinh thể m u trắng được đựng trong hộp gi y để dưới s n nh trong phòng của L; 01 (một) bộ nỏ tự chế dùng để sử dụng ma túy; 02 (hai) cân điện tử đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra đã xác định:

Đỗ Nguyễn Kim L l đối tượng nghiện ma túy từ đầu năm 2017. Khoảng tháng 01 năm 2018, L nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho các con nghiện trên địa b n th nh phố T để có tiền tiêu x i v có ma túy để sử dụng tiếp. Để thực hiện việc bán ma túy, khoảng 14 giờ ng y 01/7/2018, L dùng điện thoại có số thuê bao 0163.723.0628 g i đến số thuê bao 0125.727.0604 của người nam tên N (không rõ lai lịch, địa chỉ) để hỏi mua ma túy với số tiền 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) thì N đồng ý v hẹn L đến khu vực cầu P, thuộc th nh phố T, tỉnh B để giao ma túy. Ngay sau đó, L đến khu vực cầu P để gặp N mua ma túy với số tiền 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) rồi L đem về c t gi u v o hộp gi y trong phòng của L tại nh địa chỉ số G29/87, khu 10, phường C, th nh phố T, tỉnh B. Đến khoảng 16 giờ ngày 01/7/2018, L dùng điện thoại có số thuê bao 0163.723.0628 g i đến số thuê bao 0167.658.8508 của người nam tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) để hỏi mua ma túy với số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) thì T đồng ý v hẹn L đến khu vực chợ B thuộc thị xã T, tỉnh B để giao ma túy. Ngay sau đó, L đến khu vực chợ B để gặp T mua ma túy với số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) rồi L đem về c t gi u v o hộp gi y trong phòng của L. Đến khoảng 04 giờ ng y 04/7/2018, L dùng điện thoại có số thuê bao 0163.723.0628 g i đến số thuê bao 0965.066.532 của người nam tên K (không rõ lai lịch, địa chỉ) để hỏi mua ma túy với số tiền 10.800.000 đồng (mười triệu tám trăm nghìn đồng) thì K đồng ý v hẹn L đến khu vực nh thờ Lái Thiêu thuộc thị xã T, tỉnh B để giao ma túy. Ngay sau đó, L đến khu vực nh thờ Lái Thiêu để gặp K mua ma túy với số tiền 10.800.000 đồng (mười triệu tám trăm nghìn đồng) rồi L đem về c t gi u v o hộp gi y trong phòng của L. Số ma túy L c t gi u L l y ra sử dụng một ít, số ma túy còn lại L bỏ v o một gói nilon miệng kéo dính rồi L c t gi u v o một hộp gi y trong phòng của L. Đến khoảng 02 giờ ng y 06/7/2018, khi L đang ở nh thì một người nam tên thường g i l Ba G (không rõ lai lịch, địa chỉ) sử dụng điện thoại có số thuê bao 0166.235.6779 g i đến số thuê bao 0163.723.0628 của L để hỏi mua ma túy với số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) thì L đồng ý v hẹn Ba G đến hẻm 159, khu 2, phường P, th nh phố T, tỉnh B để giao ma túy. Lúc n y, L l y một ít ma túy trong gói nilon miệng kéo dính được đựng trong hộp gi y để dưới s n nh trong phòng của L rồi L dùng cân điện tử để phân chia. Sau khi phân chia xong, L dùng 01 (một) gói nilon miệng kéo dính đựng số ma túy trên v c t v o ngăn bên trái phía trước xe mô tô biển số 61C1 - 780.32 để giao cho Ba G, số ma túy còn lại L đựng trong 01 (một) gói nilon miệng kéo dính v c t v o hộp gi y để dưới s n trong phòng của L. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô biển số 61C1 - 780.32 đi đến hẻm 159, khu 2, phường P, th nh phố T, tỉnh B để gặp Ba G. Đến khoảng 02 giờ 45 phút cùng ng y, khi L đang đứng chờ Ba G để giao ma túy thì L bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an th nh phố Thủ Dầu Một phối hợp với Công an phường Phú Cường phát hiện, bắt quả tang, thu giữ: 01 (một) gói nilon miệng kéo dính bên trong có chứa tinh thể m u trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone m u đen có sim số thuê bao 0163.723.0628; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung m u đen có sim số thuê bao 0984.632.433; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 61C1 - 780.32, số khung 112XHK259053, số máy KF11E2256072. Đồng thời tiến h nh khám xét nh của L tại địa chỉ số G29/87, khu 10, phường C, th nh phố T, tỉnh B, thu giữ: 01 (một) gói nilon miệng kéo dính, bên trong có chứa tinh thể m u trắng được đựng trong hộp gi y để dưới s n nh trong phòng của L; 01 (một) bộ nỏ dùng để sử dụng ma túy; 02 (hai) cân điện tử đã qua sử dụng.

Ng y 06/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an th nh phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 316, trưng cầu giám định ch t tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) gói nilon miệng kéo dính (M1) v ch t tinh thể m u trắng được đựng trong 01 (một) gói nilon miệng kéo dính (M2) đã thu giữ của Đỗ Nguyễn Kim L. Ng y 10/7/2018, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương có bản kết luận giám định số 405/MT-PC54, kết luận mẫu tinh thể gửi giám định l ma túy, có tr ng lượng 0,6045 gam (M1); 48,2157 gam (M2), loại Methamphetamine.

Đối với người nam tên T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0167.658.8508 bán ma túy cho L tại khu vực chợ Búng, người nam tên N sử dụng điện thoại có số thuê bao 0125.727.0604 bán ma túy cho L tại khu vực cầu Phú Cường, người nam tên K sử dụng số thuê bao 0965.066.532 bán ma túy cho L tại khu vực nh thờ Lái Thiêu v người nam tên thường g i l Ba G sử dụng điện thoại có số thuê bao 0166.235.6779 liên lạc mua ma túy của L. Ngày 17/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một ban h nh Công văn số 37, 38 gửi đến Trung tâm Vinaphone khu vực II, số 242, đường T, phường 14, quận 10, th nh phố H và Chi nhánh Viettel Bình Dương, số 161/163, đường D1, khu dân cư P, th nh phố T, tỉnh B yêu cầu cung c p thông tin chủ số thuê bao trên nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một tiếp tục xác minh l m rõ, xử lý sau.

Đối với 02 (hai) gói nilon miệng kéo dính, bên trong có chứa ma túy, tr ng lượng sau giám định l 0,5314 gam (M1) và 47,8126 gam (M2); 01 (một) bộ nỏ dùng để sử dụng ma túy v 02 (hai) cân điện tử đã qua sử dụng l vật chứng của vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một chuyển Chi cục thi h nh án dân sự th nh phố Thủ Dầu Một.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone m u đen có sim số thuê bao 0163.723.0628 l phương tiện L sử dụng để thực hiện h nh vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một chuyển Chi cục thi h nh án dân sự th nh phố Thủ Dầu Một.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung m u đen có sim số thuê bao 0984.632.433 l t i sản của L, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một chuyển Chi cục thi h nh án dân sự th nh phố Thủ Dầu Một để trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 61C1 - 780.32 (số khung 112XHK259053, số máy KF11E2256072) do bà Đỗ Thị Ng c Đ (bà Đ là chị ruột của L), sinh năm 1985; Địa chỉ: số 182B, p P, xã A, thị xã T, tỉnh B đứng tên gi y chứng nhận đăng ký xe. Ngày 05/7/2018, bà Đ giao xe mô tô nói trên cho L l m phương tiện đi lại, việc L sử dụng xe mô tô để đi bán ma túy bà Đ ho n to n không biết nên ng y 09/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một giao trả xe mô tô nói trên cho bà Đ.

Cáo trạng số 351/CT-VKSNDTP.TDM-HS ngày 29/11/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L về tội “T ng trữ trái phép ch t ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L mức hình phạt từ 12 đến 13 năm tù;

Về biện pháp tư pháp: Đối với 02 gói nilon miệng kéo dính bên trong có chứa ma túy tr ng lượng sau giám định l 0,5314gam (M1) và 47,8126gam (M2); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 cân điện tử đã qua sử dụng l tang vật của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu hiệu Iphone m u trắng số thuê bao 0163.723.0628 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) l phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện h nh vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung quỹ nh nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung m u đen, số thuê bao 0984.632.433 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) l tư vật của bị cáo không liên quan đến h nh vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.

Bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, quyết định, h nh vi tố tụng của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người l m chứng biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng các t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/7/2018, Đỗ Nguyễn Kim L đã có hành vi t ng trữ trái phép 48,8202 gam ma túy (Methamphetamine) để sử dụng v bán lại cho các con nghiện trên địa b n th nh phố T, tỉnh B. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của các con nghiện đã mua ma túy của L nên hành vi mà bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L thực hiện chỉ hội đủ yếu tố c u th nh tội “T ng trữ trái phép ch t ma túy” được quy định tại theo điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo với tội danh v điều khoản như trên l ho n to n có căn cứ v đúng pháp luật.

Hành vi mà bị cáo thực hiện l nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nh nước đối với ch t ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút ch t ma túy đang diễn ra phức tạp trong m i tầng lớp. Tệ nạn n y l mối quan tâm của to n xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn n y chưa được đẩy lùi chính l có sự tiếp tay của bị cáo. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính ch t, mức độ của h nh vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở th nh công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe v phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về h nh vi phạm tội của mình. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối chiếu với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ v o nhân thân bị cáo, xét mức hình phạt m đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ch p nhận.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 02 gói nilon miệng kéo dính bên trong có chứa ma túy tr ng lượng sau giám định l 0,5314gam (M1) v 47,8126gam (M2); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 cân điện tử đã qua sử dụng l tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone m u trắng số thuê bao 0163.723.0628 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) l phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện h nh vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nh nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung m u đen, số thuê bao 0984.632.433 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) l tư vật của bị cáo không liên quan đến h nh vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ v o điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 136, 260 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L phạm tội “T ng trữ trái phép ch t ma túy”.

1./ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn ch p h nh hình phạt tù tính từ ng y 06/7/2018.

2./ Về vật chứng của vụ án, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 02 gói nilon miệng kéo dính bên trong có chứa ma túy tr ng lượng sau giám định l 0,5314gam (M1) v 47,8126gam (M2); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 cân điện tử đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu hiệu Iphone m u trắng số thuê bao 0163.723.0628 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung m u đen, số thuê bao 0984.632.433 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 039.19 ngày 03/12/2018 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

3./ Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Nguyễn Kim L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ