- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Đ tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HS-ST Ngày 23-5-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hương Nhu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và ông Phạm Xuân Sang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2019, tại Nhà văn hóa khu An Nhân Đông, thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1970 tại huyện H1, tỉnh B; nơi đăng ký HKTT: Thôn Y, xã H, huyện H1, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc N và bà Nguyễn Thị S (đều đã chết); có chồng là Ngọ Văn N (đã chết), có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt.
Bị tạm giữ từ ngày 26/02/2019, sau chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay, có mặt tại phiên toà.
- Người chứng kiến: Chị Chu Thị T và anh Trần Văn Q (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Đ là người nghiện ma túy nên chiều ngày 26/02/2019, Đ đi mua ma túy về sử dụng. Đ đi bộ từ nhà trọ ở thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ra đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (thuộc địa phận thôn N, xã T) thì gặp một thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ, Đ hỏi người thanh niên này có ma túy đá bán không, người này hỏi mua bao nhiêu, Đ đưa cho người thanh niên này 1.000.000 đồng và người này đưa lại cho Đ một túi nilon bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng. Đ cầm gói ma túy trong lòng bàn tay và đi bộ về nhà trọ. Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi Đ đi đến đoạn Đ gom cao tốc thuộc thôn N, xã T, huyện T thì bị tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an tỉnh Hải Dương phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay phải của Đ một túi nilon màu trắng kích thước (2x3)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 119/KLGĐ-PC09 ngày 01/3/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) mầu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Thị Đ, gửi đến giám định khối lượng là 0,860g (không phẩy tám trăm sáu mươi gam) là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS-TK ngày 23/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Thị Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, 26/02/2019; về hình phạt bổ sung: không áp dụng; về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 0,692 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định; về án phí: buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 26/02/2019, tại khu vực đường gom cao tốc Hà Nội - Hải Phòng thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Thị Đ có hành vi cất giấu trái phép 0,860 gam ma túy là loại methamphetamine tại lòng bàn tay phải, với mục đích để sử dụng thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo Nguyễn Thị Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Khối lượng ma túy (Methamphetamine) mà bị cáo Đ tàng trữ là 0,860 gam nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước ở tất cả các khâu nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo thì mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, là phụ nữ và có hoàn cảnh éo le (chồng chết sớm, một mình nuôi con, phải xa gia đình để đi làm thuê) nhưng vẫn cần thiết phải bắt bị cáo Đ cách ly đời sống xã hội một thời gian để Nhà nước giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Đ là đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy mà Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại sau giám định (0,692 gam) là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo Đ nhưng Cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án này, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giữ, ngày 26/02/2019.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 0,692 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định (đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/4/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban thường vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n, buộc bị cáo Nguyễn Thị Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương, VKSND huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan cảnh sát điều tra, Cơ quan THA hình sự, Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Tứ Kỳ; - Trại tạm giam Kim Chi; - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ; - Sở Tư pháp Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hƣơng Nhu |