- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Văn K phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn K phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16 /2019/HS-ST. Ngày 09/5/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Tuấn Vũ.
2. Bà Lương Thị Kim Oanh.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2019/HSST ngày 09 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐST-HS ngày 26/4/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn K, sinh năm 1960.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; Trình độ văn hóa: Lớp 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông ông Vũ Văn L (Đã chết) và bà Bùi Thị G, sinh năm 1933; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Nhâm Thị V, sinh năm 1963; Bị cáo có 01 con; Nhân thân: tháng 04/1981 đến tháng 6/1983 thực hiện nghĩa vụ quân sự tại đơn vị Hải quân huyện Hà Tu, tỉnh Quảng Ninh; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/12/2018 đến ngày 27/12/2018 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Xuân M, sinh năm 1971. (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn X, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Người làm chứng:
- Anh Trần Trọng R, sinh năm 1974. (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 12 giờ 40 phút ngày 24/12/2018, Phạm Xuân M, đến nhà của Vũ Văn K với mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Đến nhà K, M đi vào bên trong phòng khách thì gặp K và Trần Trọng R. M hỏi Khu “Có Hê không để cho em tý”. K trả lời “Còn một cái đưa tiền đây”. M lấy ra một tờ 500.000 đồng đưa cho K, K nhận tiền rồi đi mở ngăn kéo bàn uống nước lấy ra một gói Hêrôin bên ngoài gói bằng giấy tráng kim màu trắng đưa cho M và nói “Một gói một trăm nghìn đồng tao chưa có tiền trả lại, còn bốn trăm tao trả lại sau”. M đồng ý, còn K đi ra mở cửa để M và R về. M thấy bật lửa và mẩu giấy tráng kim màu trắng để trên mặt bàn uống nước, M bỏ gói Hêrôin vừa mua lấy một phần cho vào giấy tráng kim rồi đốt lên sử dụng cho bản thân phần còn lại gói như cũ cho vào túi áo khoác ngoài bên trái mục đích đem về sử dụng cho bản thân, vì cùng là người nghiện nên R nói với M “Cho em làm khói” M đồng ý đưa cho R sử dụng cùng. M sử dụng xong thì vo mẩu giấy tráng kim vất vào xô đựng ống điếu cạnh bàn nước rồi ra về. Khi M đi ra đến cửa nhà K thì bị tổ công tác Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi áo khoác bê trái của M 01 gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng bên trong có chất bột màu trắng dạng cục; thu tại túi áo ngực của K đang mặc một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; kiểm tra người R không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác Công an huyện Kiến Xương đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với M về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của K thu giữ tại ngăn kéo bàn uống nước trong phòng khách 01 gói bên ngoài được bọc bằng bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng dạng cục; thu tại ngăn mát tủ lạnh thứ 3 từ trên xuống 01 gói bên ngoài được bọc bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng dạng cục; 02 gói nhựa màu đen.
Bản kết luận giám định số 467/KLGĐ- PC09 ngày 24/12/2018, của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định thu của Phạm Xuân M là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,0240 gam.
Mẫu M1 gửi giám định là ma túy loại Heroine (Hêrôin) có khối lượng là 0,0186 gam.
Mẫu M2 04 mẩu giấy tráng kim màu trắng gửi giám định không tìm thấy chất bám dính.
Mẫu M3 chất bột màu trắng dạng cục gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin) có khối lượng 0,0262 gam.
Chất rắn màu đen gửi giám định là ma túy, loại nhựa thuốc phiện có khối lượng 0,6729 gam.
Cáo trạng số 14/KSĐT ngày 08/4/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Vũ Văn K về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1, điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Văn K về tội danh và điều luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn K phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Áp dụng khoản 1, 5 điều 251; điểm s, khoản 1, 2 điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn K 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2018.
Phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.0000 đến 7.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 04 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 467/KLGĐ ngày 24/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình gồm: 01 phong bì mặt trước ghi “Hoàn trả mẫu vật giám định thu của Phạm Xuân M sinh năm 1971, thôn X,xã B,, K,, Thái Bình”; 03 phong bì mặt trươc đều ghi “Hoàn trả mẫu vật giám định thu của Vũ Văn K, sinh năm 1960 thôn Đ, xã V, K, Thái Bình”có ký hiệu M1, M2, M3.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng thu của Vũ Văn K. Trả lại anh Phạm Xuân M trú tại thôn X, xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình số tiền 400.000 đồng trong số tiền thu của thu Vũ Văn K trong phong bì niêm phong mặt trước ghi” tiền bán ma túy thu của Vũ Văn K, sinh năm 1960, thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Về án phí: Bị cáo Vũ Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và đã được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương lập hồi 12 giờ 45 phút ngày 24/12/2018 đối với Phạm Xuân M về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương lập hồi 15 giờ 40 ngày 24/12/2018 đối với Vũ Văn K tại nhà ở của K; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương lập hồi 14 giờ; hồi 14 giờ 10 và hồi 15 giờ 20 ngày 24/12/2018 tại chỗ ở của Vũ Văn K; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng Trần Trọng R; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến là ông Trần Mạnh H, anh Trần Đồng K; Kết luận giám định số 467/KLGĐ- PC09 ngày 24/12/2018, của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình và phù hợp với những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Từ căn cứ nêu trên hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vũ Văn K đã phạm vào tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1, điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
.........
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất gây nghiện. Ma túy không những làm sa sút sức khỏe, trí tuệ con người mà còn hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền căn bệnh HIV/AIDS là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo bán trái phép chất ma túy cho người khác để hưởng lợi, vì vậy phải xử lý nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng mức độ phạm tội của bị cáo và có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo có thời giam tham gia quân đội nhân dân Việt Nam do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Ngoài hình phạt tù trong điều luật còn quy định: Người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, bị cáo bán ma túy mục đích hưởng lợi cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng: Số vật chứng thu giữ của bị cáo K và thu giữ của anh M sau giám định hoàn lại gồm: 0,0168 gam Heroine trong phong bì niêm phong hoàn số 467/KLGĐ; 0,0102 gam Heroine trong phong bì hoàn trả ký hiệu M1; 04 mảnh giấy tráng kim và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả ký hiệu M2, số 467/KLGĐ; 0,0172 gam Heroine và 0,5630 gam chất rắn màu đen và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả ký hiệu M3, số 467/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình. Trong số vật chứng trên, 0,0448 gam Heroine thu giữ tại nhà bị cáo, bị cáo khai tàng trữ để bán kiếm lời và 0,6729 gam nhựa thuốc phiện tàng trữ để chữa bệnh nay cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 500.000 đồng có số seri NN 09658778 Cơ quan Điều tra quản lý của K chuyển cơ quan thi hành án, trong số tiền đó 100.000 đồng bị cáo khai nhận là tiền bán ma túy cho M vào ngày 24/12/2018 mà có, do đó cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Còn lại số tiền 400.000 đồng bị cáo còn nợ lại anh Mạnh chưa trả, nay cần trả lại cho bị cáo nhưng quản lý để đảm bảo thi hành án.
[8] Đối với Phạm Văn M có hành vi tàng trữ 0,0240 gam Hêrôin để sử dụng bản thân, M chưa có tiền án, tiền sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội theo quy định tại Điều 248, 250, 251 và 252 Bộ luật hình sự, khối lượng ma túy dưới 0,1 gam. Do đó chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Công an huyện Kiến Xương đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với M là phù hợp.
[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của M và R tại nhà Vũ Văn K ngày 24/12/2018 Công an huyện Kiến Xương đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính. K không biết M và R sử dụng ma túy tại nhà nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm đối với K về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 256 Bộ luật hình sự.
[10] Đối với Vũ Văn K có hành vi tàng trữ trái phép 0,6729 gam nhựa thuốc phiện để sử dụng, bản thân chưa có tiền án, tiền sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại Điều 248, 250, 251 và 252 Bộ luật hình sự, khối lượng ma túy dưới 01 gam. Do đó chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiêm hình sự đối với K về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Cơ quan Công an huyện Kiến Xương đã xử phạt vi phạm hành chính đối với K là phù hợp.
[11] Về án phí: Bị cáo Vũ Văn K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, 5, Điều 251; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn K phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 24/12/2018.
Phạt tiền bị cáo Vũ Văn K 5.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,0168 gam Heroine trong phong bì niêm phong số 467/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình mặt trước ghi “Hoàn trả mẫu vật giám định thu của Phạm Xuân M sinh năm 1971, thôn X, xã B, huyện K, Thái Bình”; 03 phong bì mặt trươc đều ghi “Hoàn trả mẫu vật giám định thu của Vũ Văn K sinh năm 1960 thôn Đ, xã Vũ Tây, huyện K, Thái Bình” gồm: 0,0102 gam Heroine trong phong bì hoàn trả ký hiệu M1; 04 mảnh giấy tráng kim và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả ký hiệu M2; 0,0172 gam Heroine và 0,5630 gam chất rắn màu đen và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả ký hiệu M3.
Tịch thu của bị cáo Vũ Văn K số tiền 100.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước. Trả lại bị cáo Vũ Văn K số tiền 400.000 đồng nhưng quản lý để đảm bảo thi hành án. Số tiền được đựng trong 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Vật chứng thu giữ của Vũ Xuân K sinh năm 1960 trú tại thôn Đ, xã V, huyện K, Thái Bình”
(Vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình quản lý).
4. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan anh Phạm Xuân M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Kiến Xương; - Công an huyện Kiến Xương; - THADS huyện Kiến Xương; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phan Anh Tuấn |