vanban.org

Bản án 16/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Thu N - Phạm Tài D"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 16/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 20-5-2019
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tăng Gô

2. Bà Nguyễn Thị Rê

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

H, tỉnh Long An.

Ngày 20 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 43/2019/TLST-HNGĐ ngày 05

tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử

số: 19/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu N - Sinh năm 1999 - Địa chỉ: ấp V, xã

MTT, huyện H, tỉnh Long An. (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Phạm Tài D - Sinh năm 1998 - Địa chỉ: ấp 6, xã MTD, huyện

H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 02 năm 2019, các văn bản tiếp theo,

nguyên đơn bà Phạm Thị Thu N trình bày và yêu cầu:

Bà và ông Phạm Tài D cưới nhau năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban

nhân dân xã MTD ngày 08-6-2018; Chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát

sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; Bà và ông D đã ly thân từ

ngày 25-12-2018.

- Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Phạm Tài D;

- Về nuôi con chung: Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Phạm Ngọc

Mai T, sinh ngày 27-6-2018, đang sống với bà, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 08-4-2019, bà Phạm Thị Thu N có đơn xin xét xử vắng mặt;

Bị đơn là ông Phạm Tài D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do,

nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Phạm Thị Thu N khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Phạm Tài D, Tòa án

nhân dân huyện H tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của

bà N theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn ông Phạm Tài D được niêm

yết hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà N theo quy định tại khoản 3 Điều

228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, ông D không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa, vì ông không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương sự không

thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Xét về hôn nhân:

Bà N và ông D chung sống có đăng ký kết hôn ngày 08-6-2018 tại Ủy

ban nhân dân xã MTD, huyện H, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông D là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà N: Bà N không đưa ra được tài liệu chứng cứ

chứng minh cho trình bày và yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, xét bà N và ông D xảy ra mâu thuẫn và ly thân từ năm 2018, hiện vẫn sống ly thân, tự mỗi người lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau. Mâu thuẫn giữa bà N và ông D đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân

không đạt được. Việc bà N yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại

điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận. Ông D không có ý kiến

nên không có căn cứ xem xét.

Về nuôi con chung:

Bà N trình bày và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Phạm Ngọc

Mai T, sinh ngày 27-6-2018, đang sống với bà N; Bà N không đưa ra được tài liệu

chứng cứ chứng minh cho trình bày và yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp pháp.

Tuy nhiên xét con chung còn nhỏ, dưới 12 tháng tuổi, sống chung với bà N từ trước

đến nay, việc thay đổi môi trường sống sẽ ảnh hưởng đến việc chăm sóc con chung

và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của con chung, nên chấp nhận để bà N

được trực tiếp nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân

gia đình năm 2014. Ông D không có ý kiến về nuôi con chung, nên không có căn

cứ xem xét.

Bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, phù hợp

quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

Ông D được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì D

ích của con chung, bà N và ông D được quyền yêu cầu thay đổi trình trạng nuôi con

chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83,

84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu

cầu Tòa án giải quyết, ông D không có ý kiến, nên không đề cập giải quyết; Nếu xảy

ra tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của

pháp luật tố tụng dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội, xét thấy: Bà N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000

đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí

dân sự sơ thẩm đã nộp, bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; Ông D không phải

chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản

lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu N được ly hôn với ông Phạm Tài D.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Bà Phạm Thị Thu N được trực tiếp nuôi con chung tên Phạm Ngọc Mai T,

sinh ngày 27-6-2018, đang sống với bà N.

2.2. Ông Phạm Tài D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

2.3. Ông D được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi

ích của con chung, bà N và ông D được quyền yêu cầu thay đổi trình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ

án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thu N phải chịu 300.000 đồng

(Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (Biên lai thu số 0004433 ngày 05-3-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H), bà N đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc

thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ