vanban.org

Bản án 16/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kh.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Kh được ly hôn anh T. Quan hệ hôn nhân giữa chị Kh và anh T (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 80 ngày 20/9/2013 của Ủy ban nhân dân xã E, C, Đ) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao con chung Kh, sinh ngày 25/11/2015 cho chị Kh trực tiếp trông n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hon Lo Thi Kh va Lu van T"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ JÚT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 16/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hòa

2. Bà Nguyễn Thị Thuận

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Hoàng Xuân Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 86/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2019 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 08 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị kh, sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đ (Có mặt)

Bị đơn: Anh T, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đ (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 09/4/2019, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Kh trình bày:

Chị KH và anh T kết hôn vào năm 2013, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 80 ngày 20/9/2013 của Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đ.

Sau khi cưới anh chị cùng sống chung với gia đình chị Kh tại xã E, huyện C, tỉnh Đ. Anh chị kết hôn tự nguyện, chung sống hạnh phúc trong một thời gian. Về sau vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, không hòa hợp trong cuộc sống; anh T thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn, chửi bới, đánh đập, xúc phạm vợ con, xúc phạm bố mẹ chị Kh. Hiện nay anh chị đã sống ly thân hơn một năm. Xét vợ chồng tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Kh đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị Kh và anh T có một con chung là K, sinh ngày 25/11/2015; hiện nay đang được chị Kh trực tiếp nuôi dưỡng, chị Kh có nguyện vọng trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Kh xác định không có.

Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn anh T vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo qui định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Bị đơn mặc dù Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về Tố tụng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút xét thấy đảm bảo đầy đủ và hợp pháp.

- Về nội dung: Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị HĐXX chấp nhận. Về con chung xét điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của nguyên đơn đảm bảo, con lại đang sống cùng chị Kh nên đề nghị HĐXX chấp nhận giao con cho chị Khởi trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Lò Thị Kh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh T. Anh T có hộ khẩu thường trú và sống tại xã E, huyện C, tỉnh Đ. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Về thủ tục xét xử vắng mặt:

Anh T đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định tại các Điều 179, 208, 209, 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Kh khai nhận chị và anh T chung sống và kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea Pô, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông vào ngày 20/9/2013 đúng quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn nên HĐXX xác định hôn nhân giữa chị Kh và anh T là hợp pháp. Chị Kh anh T chung sống hạnh phúc được một thời gian, về sau bắt đầu mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, không hòa hợp trong cuộc sống; anh T thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn, chửi bới, đánh đập, xúc phạm vợ con, xúc phạm bố mẹ chị Kh. Hiện nay anh chị đã sống ly thân được hơn một năm. Xét mâu thuẫn vợ chồng là có thật, không còn tình cảm với nhau, không còn khả năng đoàn tụ nên HĐXX xét thấy cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị Kh ly hôn anh T.

Về con chung: Chị Kh anh T có một con chung là K, sinh ngày 25/11/2015, chị Kh có nguyện vọng trực tiếp nuôi con. Xét chị Kh đủ diều kiện nuôi, đảm bảo sự phát triển bình thường của con, hiện nay cháu Kh đang được chị Kh trực tiếp nuôi dưỡng nên HĐXX chấp nhận. Chị Kh không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Kh khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thì chị Kh phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84; Điều 85; Điều 86 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kh.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Kh được ly hôn anh T. Quan hệ hôn nhân giữa chị Kh và anh T (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 80 ngày 20/9/2013 của Ủy ban nhân dân xã E, C, Đ) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao con chung Kh, sinh ngày 25/11/2015 cho chị Kh trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Trong trường hợp chị Kh không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, anh T hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Kh cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Khởi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

[2] Về án phí: Chị Kh phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000563 ngày 24/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đ. Chị Kh đã nộp đủ án phí.

[3] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ