vanban.org

Bản án 16/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai Tuyên án 12/12/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Buộc ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 12/12/2019 là: 338,750,000 đồng (Ba trăm ba mươi tám triệu,bẩy trăm năm mươi nghìn đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Phạm Hữu T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2019/DS-ST
Ngày 12 tháng 12 năm 2019
“V/v Tranh chấp hợp
đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Dƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Nhƣ Kiên và ông Ngô Thanh Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2019/TLST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2019, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Địa chỉ: 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trọng Toàn.

Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai.

Địa chỉ: Tổ 8, thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Phạm Hữu T - Sinh năm: 1980

Bà Nguyễn Thị H – Sinh năm: 1982

Cùng địa chỉ: Làng Đăk Hmok, xã Đăk Trôi, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 25/01/2019, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Ngày 26 tháng 10 năm 2016 vợ chồng ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H có ký kết hợp đồng tín dụng số: 231624101/HĐTD với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai để vay số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 26/10/2016 đến ngày 25/10/2017, mục đích vay để chăm sóc hồ tiêu, lãi suất vay trong hạn 10,0%/năm, lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay có cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản là 02 thửa đất liền kề số: 24a và 25a như sau:

Đất ở, đất trồng cây lâu năm tại Làng Đăk Hmok, xã Đăk Trôi, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BP178628 do Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp ngày 05/12/2013. Thửa đất số: 24a; tờ bản đồ số: 10; diện tích: 201,8m2 (Trong đó đất ở 80m2, đất trồng cây lâu năm 121,8m2).

Đất ở, đất trồng cây lâu năm tại Làng Đăk Hmok, xã Đăk Trôi, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BL190645 do Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp ngày 14/08/2012. Thửa đất số: 25a; tờ bản đồ số: 10; diện tích: 180m2 (Trong đó đất ở 100m2, đất trồng cây lâu năm 80m2).

Trên tổng diện tích đất ở của 02 thửa đất liền kề số: 24a và 25a có 01 nhà xây cấp IVc, mái lợp Tole, nền xi măng, công trình phụ khép kín. diện tích xây dựng: 160m2.

Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 231624101/HĐTC ngày 25/10/2016, đã được Ủy ban nhân dân xã Đăk Trôi, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai chứng nhận thế chấp ngày 25/10/2016, hợp đồng thế chấp nêu trên đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H đã nhận hết tiền vay vào ngày 26/10/2016.

Đến ngày 25/10/2017 đến kỳ hạn trả gốc và lãi của khoản vay nhưng ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H mới trả được 17,638,898 đồng tiền lãi. Không nộp trả gốc và lãi theo kỳ hạn. Ngân hành đã nhiều lần mời ôngPhạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H đến làm việc, đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H không hợp tác thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Do ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Buộc ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng tổng cộng số tiền 338,750,000 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 250,000,000 đồng; tiền nợ lãi tính đến ngày 12/12/2019 là 106,388,889 đồng. Trong đó, nợ lãi trong hạn là 79,375,000 đồng, nợ lãi quá hạn là 27,013,889 đồng, đã trả lãi được 17,638,889 đồng. Tổng số tiền nợ lãi còn phải trả là 88,750,000 đồng. Ngoài ra, Ngân hàng còn yêu cầu ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H trả tiền lãi phát sinh tính từ ngày 13/12/2019 cho đến khi ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H trả hết nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

2. Trường hợp ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H không trả được nợ hoặc không trả đủ số nợ trên cho Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp của ông T, bà H theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: 231624101/HĐTC ngày 25/10/2016 là tài sản:

Đất ở, đất trồng cây lâu năm tại Làng Đăk Hmok, xã Đăk Trôi, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BP178628 do Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp ngày 05/12/2013. Thửa đất số: 24a; tờ bản đồ số: 10; diện tích: 201,8m2 (Trong đó đất ở 80m2, đất trồng cây lâu năm 121,8m2).

Đất ở, đất trồng cây lâu năm tại Làng Đăk Hmok, xã Đăk Trôi, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BL190645 do Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp ngày 14/08/2012. Thửa đất số: 25a; tờ bản đồ số: 10; diện tích: 180m2 (Trong đó đất ở 100m2, đất trồng cây lâu năm 80m2).

Trên tổng diện tích đất ở của 02 thửa đất liền kề số: 24a và 25a có 01 nhà xây cấp IVc, mái lợp Tole, nền xi măng, công trình phụ khép kín. diện tích xây dựng: 160m2 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Đối với bị đơn ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông bà đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Qua xác minh tại nơi cư trú, chính quyền địa phương cho biết bị đơn ông ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H có hộ khẩu thường trú tại Làng Đăk Hmok, xã Đăk Trôi, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai nhưng hiện nay không sống ổn định tại nơi cư trú, không xác định được hiện đang ở đâu và thời điểm trở về cụ thể. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để ông bà đến tham gia phiên tòa nhưng ông Toàn, bà Hằng tiếp tục vắng mặt. Do vậy, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì để Hội đồng xét xử xem xét.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang có ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ ngày thụ lý cho đến thời điểm xét xử và tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ 338,750,000 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 250,000,000 đồng; tiền nợ lãi tính đến ngày 12/12/2019 là 106,388,889 đồng. Trong đó, nợ lãi trong hạn là 79,375,000 đồng, nợ lãi quá hạn là 27,013,889 đồng, đã trả lãi được 17,638,889 đồng. Tổng số tiền nợ lãi còn phải trả là 88,750,000 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/12/2019) cho đến khi thi hành xong các khoản nợ trên, ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 231624101/HĐTD ngày 26/10/2016. Nếu bị đơn là ông T, bà H không trả được nợ hoặc không trả đủ số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Về án phí: Buộc bị đơn ông T, bà H phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 25/01/2019, nguyên đơn là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có đơn khởi kiện yêu cầu ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H thanh toán số tiền nợ gốc là 250,000,000 đồng và nợ lãi phát sinh tính đến ngày 12/12/2019 là 88,750,000 đồng. Xét hình thức, nội dung đơn khởi kiện là đúng theo quy định của pháp luật. Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo kết quả xác minh của Tòa án tại Công an xã Đăk Trôi, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, bị đơn là ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H có địa chỉ nơi cư trú đúng với địa chỉ mà nguyên đơn đã ghi trong đơn khởi kiện và đúng với địa chỉ ghi trong hợp đồng. Tuy nhiên, khi Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, bị đơn đã đi khỏi nơi cư trú mà nguyên đơn đã cung cấp nhưng không thông báo cho nguyên đơn và cơ quan có thẩm quyền biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Dân sự 2015, cố tình giấu địa chỉ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã niêm yết về việc thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và niêm yết những văn bản tố tụng để tiến hành giải quyết theo thủ tục chung. Bị đơn đã được Tòa án tiến hành thủ tục triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H phải cùng có nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 231624101/HĐTD /HĐTD, ngày 26/10/2016. Xét hình thức và nội dung của Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn mà các bên thỏa thuận là phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Bị đơn không có ý kiến phản đối nên có căn cứ xác định hợp đồng tín dụng này là có thật.

[3] Xét nội dung Hợp đồng tín dụng số: 231624101/HĐTD /HĐTD, ngày 26/10/2016: số tiền vay là 250,000,000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), ngày giải ngân là ngày 26/10/2016, lãi suất trong hạn là 10,%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 150% . Thời hạn vay 12 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 25/10/2017, kỳ hạn trả nợ thực hiện theo phụ lục kèm theo hoặc theo từng giấy nhận nợ

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Toàn, bà Hằng chỉ trả 17,638,889 đồng nợ lãi, không trả bất kỳ khoản nợ gốc và lãi nào khác. Đến ngày 26/10/2017 thì Ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn là phù hợp. Tiền lãi trong hạn (từ ngày 26/10/2016 đến ngày 12/12/2019) của số tiền nợ gốc 250,000,000 đồng, lãi suất 10%/năm là 79,375,000 đồng. Tiền lãi quá hạn của nợ gốc 250,000,000 đồng, lãi suất 150% (từ ngày 26/10/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 12/12/2019) là 27,013,889 đồng là phù hợp. Tổng cộng tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (12/12/2019) là 106,388,889 đồng, ông T, bà H đã trả 17,638,889 đồng tiền lãi, số nợ lãi còn lại là 88,750,000 đồng. Như vậy, Ngân hàng yêu cầu ông T, bà H phải trả số tiền nợ gốc là 250,000,000 đồng và tiền lãi là 88,750,000 đồng. Tổng số tiền phải trả là 338,750,000 đồng (Ba trăm ba mươi tám triệu,bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Việc tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Cụ thể, vì các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nên nếu ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (12/12/2019) cho đến khi thi hành án xong ông T, bà H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

[5] Xét yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp giữa các bên đã kí kết: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 231624101/HĐTC ngày 25/10/2016 giữa ông T, bà H và Ngân hàng là hợp pháp, nội dung thỏa thuận phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự. Bên thế chấp dùng tài sản thế chấp để đảm bảo cho các khoản nợ gốc, lãi và tất cả các nghĩa vụ liên quan khác. Theo quy định tại khoản 6 Điều 320 và khoản 1 Điều 299 của Bộ luật dân sự thì trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên thế chấp phải giao tài sản thế chấp để xử lý. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn là người có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cụ thể, bị đơn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho Ngân hàng (338,750,000 đồng) là: 16,937,500 đồng (Mười sáu triệu, chín trăm ba mươi bẩy nghìn năm trăm đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Áp dụng khoản 3 Điều 40; khoản 1 Điều 299; khoản 6 Điều 320; Điều 465; Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 90, 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2018; Điều 1 Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

1. Buộc ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 12/12/2019 là: 338,750,000 đồng (Ba trăm ba mươi tám triệu,bẩy trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó: Tiền nợ gốc là 250,000,000đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) và tiền nợ lãi là 88,750,000 đồng (Tám mươi tám triệu, bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) theo hợp đồng tín dụng số: 231624101/HĐTD ngày 26/10/2016.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/12/2019) cho đến khi thi hành xong các khoản nợ trên, ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 231624101/HĐTD ngày 26/10/2016.

2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo nội dung các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 231624101/HĐTC ngày 25/10/2016.

Trong quá trình xử lý tài sản thế chấp nếu có phát sinh tranh chấp thì các bên liên quan có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Buộc ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị H phải liên đới chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 16,937,500 đồng (Mười sáu triệu, chín trăm ba mươi bẩy nghìn năm trăm đồng).

Trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 7,628,000 đồng (Bẩy triệu, sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000868 ngày 15 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/12/2019), các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ