vanban.org

Bản án 16/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Cửa Lò, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt bổ sung: không.

Vật chứng: áp dụng khoản 2 điều 106 BLTTHS tiêu hủy 01 phong bì thư bưu điện được niêm phong có chữ ký của Võ Hồng G và các thành phần tham gia niêm phong, bên trong có một túi ni lông đựng 0,05g hêrôin đựng trong túi ni lông cùng với vỏ túi ni lông; 01 vỏ giấy lịch; 02 vỏ giấy thiếc và 01 phong bì …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hồng G- Tàng trữ trái phép CMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung: không.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật tố tụng hình sự qui định
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ CỬA LÒ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2018/HSST
Ngày 05/6/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ- TỈNH NGHỆ AN

VỚI HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: bà Đặng Thị Lệ Hằng . Các Hội thẩm nhân dân:

1. ông Nguyễn Thức Phong- Cán bộ Bệnh viện đa khoa thị xã Cửa Lò.

2. ông Võ Minh Vỹ- Cán bộ Thị ủy thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hiền- cán bộ Toà án nhân dân Thị xã Cửa Lò.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà: ông Nguyễn Tất Hải- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò.

Ngày 05 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2018/HSST ngày 21 tháng 5 năm 2018 đối với: Bị cáo: Võ Hồng G, sinh ngày 02/6/1983 Trú quán: khối 3, phường Nghi Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Trình độ văn hoá: 3/12

Nghề nghiệp: Đánh cá biển.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Võ Hồng L (đã chết) và bà Dương Thị H. Vợ con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không Nhân thân: Ngày 03/9/ 2013 Ủy ban nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 10/7/2015.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ tạm giam từ ngày 06/3/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 06/3/2018, tại đường liên khối thuộc khối 8, phường Nghi Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an thị xã Cửa Lò phát hiện và bắt quả tang Võ Hồng G đang có hành vi tàng trữ 01 gói giấy nhỏ chứa chất bột màu trắng có trọng lượng 0,13g nghi là hêrôin.

Tại kết luận giám định số 349/KL- PC54 (MT) ngày 08/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: chất bột màu trắng thu từ Võ Hồng G gửi tới giám định là chất ma túy (hêrôin).

Tại bản cáo trạng số 19/CT- VKSTXCL ngày 18 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố bị cáo Võ Hồng G về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, qua xét hỏi, bị cáo Võ Hồng G thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng số 19/CT- VKSTXCL của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Võ Hồng G mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Về vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,05g heroin còn lại (sau khi đã lấy mẫu gửi đi giám định ) thu giữ từ Võ Hồng G.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Cửa Lò, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự qui định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà, bị cáo Võ Hồng G đã khai nhận vào sáng ngày 05/3/2018, khi G đi bộ qua nhà thờ Mai Lĩnh thuộc phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò thì gặp một người đàn ông tên Tuấn và hỏi mua được 01 gói ma túy với giá 300.000đ. G cất giữ trong người và đến sáng ngày 06/3/2018, G đang đi tìm chỗ để sử dụng ma túy thì bị Công an thị xã Cửa Lò bắt giữ. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tang vật thu giữ được trong vụ án và kết luận giám định có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để HĐXX kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do trọng lượng ma túy là 0,13g nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS với hành vi tàng trữ trái phép là thỏa đáng và đúng mức.

Xét tính chất vụ án: vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng và hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, bản thân đã sử dụng ma túy rất nhiều năm, đã từng bị áp dụng biện pháp bắt buộc cai nghiện tập trung nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, bởi vì ma túy là chất độc dược hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm khác và gây mất ổn định xã hội.

Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có cả bố và mẹ đều là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng Huy chương, bằng khen nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tại thời điểm phạm tội, tuy bị cáo không có tiền án tiền sự, nhưng xét về nhân thân- năm 2013 đã áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc bằng hình thức cai nghiện tập trung nhưng bị cáo không cai được nghiện mà vẫn tiếp tục sử dụng. Do vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội 1 thời gian để bị cáo có thể cai nghiện, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh có trong hồ sơ thì bị cáo Võ Hồng G không có tài sản riêng và nghề nghiệp chính là đánh cá biển, thu nhập không ổn định. Bị cáo mua ma túy chỉ để sử dụng chứ không nhằm mục đích mua bán, không làm phát sinh lợi nhuận; kể từ khi bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay bị cáo không có thu nhập gì khác, sau này còn phải chấp hành hình phạt tù, do đó HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra truy tố cơ quan điều tra đã thu giữ một số ma túy có trọng lượng 0,13g, sau khi lấy một số gửi đi giám định còn lại 0,05g được niêm phong trong bì thư có chữ ký của bị cáo Võ Hồng G cần tịch thu tiêu hủy.

Trong vụ án còn có đối tượng tên là Tuấn- là người mà Võ Hồng G khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 05/3/2018 tại khu vực phường Thu Thủy, nhưng quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để kết luận nên không có cơ sở để xử lý.

Bị cáo Võ Hồng G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Hồng G 01 (Một) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 06/3/2018).

Về hình phạt bổ sung: không.

Vật chứng: áp dụng khoản 2 điều 106 BLTTHS tiêu hủy 01 phong bì thư bưu điện được niêm phong có chữ ký của Võ Hồng G và các thành phần tham gia niêm phong, bên trong có một túi ni lông đựng 0,05g hêrôin đựng trong túi ni lông cùng với vỏ túi ni lông; 01 vỏ giấy lịch; 02 vỏ giấy thiếc và 01 phong bì niêm phong ban đầu.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2018).

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Võ Hồng G phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ