vanban.org

Bản án 16/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 28/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim T

05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hình sự: "Mua bán trái phép chất ma túy" - Bị cáo Nguyễn Thị Kim Thanh - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? [1] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim T
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2018/HSST
Ngày: 28/02/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thành Thật.

Bà Nguyễn Thùy Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Toản– Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2018/HSST ngày 29 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1995, tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký HKTT: Ấp 12, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh; Chổ ở hiện nay: Tạm trú tổ 16, khóm Đông Thạnh, phường Mỹ T, Tp.Long Xuyên, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không. Học lực: 02/12; Cha ruột: Phạm Cu E (không rõ năm sinh); Cha kế: Huỳnh Văn K, sinh năm 1960. Mẹ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1966. Bị cáo chưa có chồng. Có 02 con, lớn sinh năm 2013 và nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Đỗ Thị Kim A, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Số 470F, khóm Đông An 6, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang - Vắng mặt.

2. Võ Văn A, sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ 6, ấp Vĩnh Phúc, xã Vĩnh Hanh, huyện Châu T, tỉnh An Giang - Vắng mặt

3. Mai Thị Mỹ An, sinh năm 1993; nơi cư trú: 37/18, khóm Trung An, phường Mỹ T, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang – Vắng mặt.

Trang 1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng tháng 3/2016 đến ngày 14/6/2016, Nguyễn Thị Kim T đã nhiều lần mua ma túy đá của Ngh không rõ họ, địa chỉ, mỗi lần mua 01 gói với giá 2.000.000đ đem về nhà trọ của Đỗ Thị Kim A ở số 470F, khóm Đông An 6, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên chia nhỏ thành nhiều gói để bán lại cho Đỗ Thị Kim A, Võ Văn A, Mai Thị Mỹ A và những người không rõ họ tên, địa chỉ với giá từ 200.000đ đến 1.000.000đ/gói. Sau đó Kim A, Văn An, Mỹ A tiếp tục bán lại cho những người khác. Đến ngày 15/7/2016, 17/8/2016, Đỗ Kim A, Mai Thị Mỹ A, Võ Văn A bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên khởi tố về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Riêng Nguyễn Thị Kim T đang mang thai nên được tại ngoại, sau đó bỏ trốn. Đến ngày 10/11/2017, T bị bắt theo Quyết định truy nã của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên và được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú do nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Kim A cho khai: Từ tháng 3/2016 đến ngày 14/6/2016, A đã nhiều lần mua ma túy của T mỗi lần mua từ 200.000đ đến 600.000đ về chia nhỏ ra để bán lại cho nhiều con nghiện. Võ Văn A khai: Từ 4/2016 đến ngày 14/6/2016 ngoài việc mua ma túy của T thì A còn nhiều lần nhận bán dùm ma túy cho T cho đến ngày bị phát hiện.

Cáo trạng số: 08/VKS-HS ngày 25/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang truy tố bị cáo: Nguyễn Thị Kim T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999; Điều 38, Điều 54, điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T từ 05 năm đến 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Thị Kim T khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như đại diệnViện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nói lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trang 2

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Long Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị Kim T thừa nhận: Từ tháng 3/2016 đến ngày 14/6/2016, T đã nhiều lần mua bán ma túy do bị phát hiện nên ngưng bán. Hình thức hoạt động: Cứ khoảng 3 – 5 ngày/lần, T mua ma túy của một thanh niên tên Ng không rõ họ, địa chỉ mỗi lần mua 01 gói với giá 2.000.000đ về chia nhỏ ra và bán lại cho Đỗ Thị Kim A, Võ Văn An, Mai Thị Mỹ A với giá từ 200.000đ đến 1.000.000đ/gói để hưởng lợi. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Kim A, Võa Văn A, Mai Thị Mỹ A; Biên bản nhận dạng và các chứng khác thu thập được trong quá trình điều tra.

Vì vậy, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim T là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về nhân thân, tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:

Ma túy là chất gây nghiện cực kỳ nguy hiểm bởi nó hủy hoại sức khỏe và trí lực người sử dụng, làm mất khả năng lao động, rối loạn hành vi, ảnh hưởng xấu đến đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc, nó còn làm tiêu tán tài sản, gây kiệt quệ nền kinh tế, phá vỡ hạnh phúc gia đình, là nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến xã hội.

Nguyễn Thị Kim T là phụ nữ đã trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình. Lẽ ra bị cáo phải biết cố gắng lao động để tạo thu nhập chính đáng nuôi sống bản thân và nuôi dạy con cái. Nhưng bị cáo không làm vậy mà trái lại thích chơi bời, hưởng thu rồi sa vào nghiện ngập dẫn đến phạm tội. Bản thân bị cáo nghiện ma túy hơn ai hết bị cáo biết rõ tác hại của ma túy lẽ ra bị cáo phải biết từ bỏ ma túy và vận động mọi người tránh xa ma túy, thế nhưng bị cáo lại bán các chất ma túy cho người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện. Tuy bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trong thời gian ngắn nhưng hậu quả gây ra cho xã hội là không nhỏ và bị cáo cũng hưởng lợi từ việc phạm tội là không ít. Do đó cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm tướng xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người dân biết tôn trọng pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.

Trang 3

Tuy nhiên có xem xét: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, khi phạm tội bị cáo đang mang thai, hiện đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm n, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Thiết nghĩ cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo T không có việc làm ổn định và lại ở nhà thuê nên không có tài sản để thi hành các khoản tiền phạt nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999; Điều 38, điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 41-NQ-QHH ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Thị Kim Thanh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[1] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim T

05 (năm) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[2] Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Nguyễn Thị Kim T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ