- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng Công - phạm tội chế tao, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng C phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16 /2018/HSST Ngày 24-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội ñồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Kim Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lục Văn Khai
2. Ông ðinh Xuân Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhiễu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
- ðại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên tòa: Bà Lân Thị Ngọc Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên B, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2018/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2018 theo Quyết ñịnh ñưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QðXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2018.
ðối với bị cáo: Nguyễn Hồng C, tên gọi khác: Không, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1953, tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn 4, xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình ñộ văn hoá: 10/10; dân tộc Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Danh T và bà Hoàng Thị B (ñã chết); vợ là Nông Thị H; có 07 con lớn nhất 46 tuổi, nhỏ nhất 27 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo ñang bị áp dụng biện pháp cấm ñi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái - Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1- Nông Thị H - Trú tại: Thôn 4, xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái: Vắng mặt.
2- Nguyễn Cao Ng - Trú tại: Thôn 4, xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái : Vắng mặt.
3- Lộc Thị Kh - Trú tại: Thôn 4, xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái : Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án ñược tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24/12/2017, sau khi cùng ñi ñám ma về nhà tại thôn 4, xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái, thì Nguyễn Hồng C và vợ là Nông Thị H xẩy ra mâu thuẫn với nhau, sợ bị chồng ñánh bà H bỏ chạy, Nguyễn Hồng C bực tức mang quần áo của bà H ra ñốt, sau ñó ñi ra nhà bè của gia ñình ở trên hồ T thuộc thôn 5, xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái, ñể nghỉ ngơi. Lúc này Nguyễn Cao N, sinh năm 1986 (là con ở cùng nhà với vợ chồng Nguyễn Hồng C) biết sự việc nên ra nhà bè tìm C ñể hỏi chuyện, khi ñến gần nhà bè thì xe mô tô của N quệt làm ñổ xe mô tô của C ñang dựng ở bến, N ñứng ở trên bờ nói vọng xuống nhà bè hỏi C tại sao ñốt quần áo của bà H nhưng C không trả lời nên N ñi về nhà. Sau khi N về, C ra khỏi nhà bè, thấy xe mô tô của mình bị ñổ, C nghĩ là N ñập phá làm hỏng xe mình nên ñã cầm theo khẩu súng trường K44, phần thân súng có số ký hiệu: “11-1953-KD22463”, trên quy lát có số “516” ñể ở trong nhà bè, ñi xe về nhà ñể hỏi chuyện N và cất súng. Khi C ñến sân nhà thì N ñang ngồi uống nước trên nhà (nhà sàn) C cầm súng trên tay lên cầu thang lúc này N cũng từ nhà xuống cầu thang, thấy C cầm súng trên tay nên N giằng lấy khẩu súng trên tay C rồi bỏ chạy, C ñuổi theo nhưng không ñược, sự việc sau ñó chấm dứt, N mang khẩu súng ñó ñi giấu, ñến ngày 27/12/2017 N mang súng ñến Công an xã X giao nộp.
Qúa trình ñiều tra, Nguyễn Hồng C khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép khẩu súng như ñã nêu trên. Về nguồn gốc khẩu súng, C khai: Năm 1979, C tham gia dân công hỏa tuyến tại tỉnh Lao Cai, khi ñi qua một nhà dân bỏ hoang thấy khẩu súng nói trên (súng không có ñạn) nên mang về nhà cất giữ ñể làm kỷ niệm.
Tại bản kết luận giám ñịnh số: 210/C54 (P3) ngày 06/2/2018 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát kết luận:
- Khẩu súng gửi ñi giám ñịnh là súng trường K44, thuộc vũ khí quân dụng, hiện súng còn sử dụng ñể bắn ñược.
- Khẩu súng trên không bắn ra các ñầu ñạn, vỏ ñạn trong các vụ án trước hiện lưu giữ trong tàng thư súng ñạn của Viện khoa học hình sự, Bộ công an.
Bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 18/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Nguyễn Hồng C về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy ñịnh tại khoản 1 ðiều 230 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, ñại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ nguyên quan ñiểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” và ñề nghị Hội ñồng xét xử: Áp dụng khoản 1 ðiều 230; ñiểm p khoản 1 và khoản 2 ðiều 46; ñiều 60 Bộ luật hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng C từ 12 ñến 18 tháng tù, cho hưởng án treo.
Về vật chứng và án phí giải quyết theo quy ñịnh của pháp luật.
Bị cáo khai báo thành khẩn và không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ðỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án ñã ñược tranh tụng tại phiên tòa, Hội ñồng xét xử nhận ñịnh như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Cơ quan cảnh sát ñiều tra Công an huyện Y và Viện kiểm sát nhân dân huyện Y ñã thực hiện các hoạt ñộng tố tụng trong giai ñoạn ñiều tra, truy tố ñúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy ñịnh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc thu thập các tài liệu, chứng cứ trong vụ án ñã ñầy ñủ, ñảm bảo hợp pháp, khách quan.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan ñiều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với kết luận giám ñịnh và các tài liệu khác ñã ñược thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy có ñủ căn cứ xác ñịnh: Nguyễn Hồng C ñã có hành vi tàng trữ trái phép khẩu súng trường K44, là vũ khí quân dụng. Hành vi của Nguyễn Hồng C ñã phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng ” quy ñịnh tại ñiều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố ñối với bị cáo là có căn cứ, ñúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp ñến chế ñộ quản lý của Nhà nước ñối với vũ khí quân dụng, gây mất trật tự an toàn xã hội tại ñịa phương. Vì vậy, việc ñưa ra bị cáo ra xử lý trước pháp luật là cần thiết.
Nguyễn Hông C là người có ñủ năng lực nhận thức ñể ñiều chỉnh mọi hành vi hoạt ñộng của bản thân, bị cáo hiểu ñược vũ khí quân dụng ñược Nhà nước ñộc quyền quản lý và chỉ sử dụng trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, bảo ñảm trật tự an toàn xã hội, chỉ có những cơ quan, tổ chức, cá nhân ñược Nhà nước cho phép mới ñược sử dụng vũ khí này. Mặc dù bị cáo biết và nhận thức ñược các qui ñịnh trên nhưng bị cáo vẫn tàng trữ vũ khí quân dụng.
Tuy nhiên khi quyết ñịnh hình phạt, Hội ñồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo ñã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố, mẹ bị cáo là người có công với nước ñược tặng thưởng Huân kháng chiến, ñể xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Xét nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội ñồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi ñời sống xã hội mà cho bị cáo ñược hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền ñịa phương, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng ñủ tác dụng giáo dục ñối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về vật chứng: Tịch thu một khẩu súng quân dụng có ký hiệu 11- 1953-KD22463; trên qui lát có hàng chữ 516 giao cho Ban chỉ huy quân sự tỉnh Yên Bái quản lý theo qui ñịnh.
Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy ñịnh của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ðỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng C phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 ðiều 230; ñiểm p khoản 1và khoản 2 ðiều 46 và ðiều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng C: 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Hồng C cho Uỷ ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, gia ñình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền ñịa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay ñổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 ñiều 69 của luật Thi hành án hình sự.
3.Vật chứng: Áp dụng ðiều 47 Bộ luật hình sự 2015; ðiều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu một khẩu súng quân dụng có ký hiệu 11-1953- KD22463; trên qui lát có hàng chữ 516, giao cho Ban chỉ huy quân sự tỉnh Yên Bái quản lý theo qui ñịnh.( Vật chứng trên cơ quan Thi hành án huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ñang quản lý tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2018)
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 ðiều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; ñiểm a khoản 1 ðiều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy ñịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hồng C phải nộp 200.000 ñồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ ðiều 331; ðiều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo ñược quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án ñược thi hành theo quy ñịnh tại ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người ñược thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy ñịnh tại các ðiều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án ñược thực hiện theo quy ñịnh tại ðiều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh - VKS H.Y; - CA H.Y; - Chi cục THADS Y; - Sở Tư pháp; - UBND xã X - Bị cáo; - Lưu HS, THA, TA. | TM. HỘI ðỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ( ðã ký) Hoàng Kim Sơn |