- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ng Đức Ng tàng trữ TPcMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? *Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS 1999.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI TỈNH NGHỆ AN –––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/HS-ST Ngày 30/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI,TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hằng Các Hội thẩm nhân dân:Bà Trần Thanh Hương, bà Đậu Thị Liệu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tuấn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Ông Văn Đức Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2018,tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo :
Nguyễn Đức Ng,
Sinh ngày: 01/01/1997, tại Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Nơi ĐKHKTT: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hoá: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Sửa chữa xe mô tô.
Con ông: Nguyễn Đức T; Con bà: Đậu Thị M;
Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con đầu.
Vợ, con: Chưa có; Tiền án,Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2017, hiện đang tạm giam.Có mặt.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Đậu Thị M, sinh năm 1975,( mẹ của bị cáo). Địa chỉ: Khối T, phường Q, thị xã H, Nghệ An.
Bà M có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 15 giờ 10 phút ngày 30 tháng 12 năm 2017, tại hành lang cầu thang tầng 2 khách sạn Xuân Mai( thuộc khối Thịnh Mỹ, phường Quỳnh Thiện, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An), tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoàng Mai bắt quả tang Nguyễn Đức Ng đang có hành vi cất dấu trong miệng một gói Poylen màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 144/KL-PC54(MT) ngày 03/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An,kết luận: Mẫu hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức Ng gửi tới giám định là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) có khối lượng 1,14g (Một phẩy mười bốn gam).
Ngoài ra, tổ công tác Công an thị xã Hoàng Mai còn thu giữ 01 chiếc xe mô tô Wave anpha, biển kiểm soát: 37L1 – 59974 do Ng mượn của bà Đậu Thị M( mẹ bị cáo); và thu giữ của bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, bên trong có 01 sim thuê bao số 0868785751. Do xác định được xe máy trên không liên quan vụ án, nên Cơ quan CSĐT đã trả lại xe máy cho bà M. Bà M và bị cáo nhất trí việc giao trả tài sản trên, tại hồ sơ cũng như tại phiên tòa bà M không yêu cầu gì thêm.Bị cáo đề nghị trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO.
Số ma túy còn lại và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO được chuyển Chi cục thi hành án dân sự quản lý theo quy định.
Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý người bán ma túy cho cho bị cáo. Do bị cáo khai: người bán là người lạ mặt.
*Tại phiên tòa:
-Đại diện VKS giữ Ng toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu. Đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS 1999. Nghị quyết số 41/ 2017/QH14 của Quốc hội. Khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Xử phạt Nguyễn Đức Ng từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Tiêu hủy số ma túy còn lại; Trả điện thoại cho bị cáo.
- Bị cáo hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lý do là mua về để sử dụng vào ngày sinh nhật của bị cáo. Đề nghị được chiếu cố giảm nhẹ mức án để sớm được về với gia đình, làm người lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đây là vụ án hình sự xẩy ra và phát hiện trước thời điểm 00 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, được đưa ra xét xử sau thời điểm 00 giờ 00 phút ngày 01/01/2018(Thời điểm có hiệu lực thi hành Bộ luật hình sự 2015). Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiến hành tố tụng vụ án theo quy định tại điều 5 Nghị quyết số 41/2017/QH14 là đúng pháp luật. Trình tự thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về việc áp dụng Bộ luật hình sự: Kết luận đề nghị của cơ quan điều tra; Kết luận truy tố của Viện kiểm sát,và Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án dựa theo quy định tại Bộ luật hình sự 1999 là đúng pháp luật.
[3] HĐXX đã làm rõ được diễn biến vụ án như nội dung tóm tắt vụ án đã nêu trên. Qua đó cho thấy:
Lời khai của bị cáo Nguyễn Đức Ng tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian,địa điểm, vật chứng và quá trình gây án.
Căn cứ dấu hiệu hành vi, đặc điểm,khối lượng vật chứng, thì Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai truy tố Nguyễn Đức Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của Nguyễn Đức Ng là liều lĩnh, coi thường pháp luật. Hành vi nêu trên thể hiện tính chất vụ án là nghiêm trọng, gây nguy hại rất lớn cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý sử dụng các chất ma tuý của Nhà nước,làm cầu nối cho người nghiện ngập, tạo điều kiện cho họ càng nghiện ma tuý mạnh hơn; Qua đó đe doạ nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng,sức khoẻ cộng đồng và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống sinh hoạt gia đình và xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo,để răn đe giáo dục người phạm tội nói riêng cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.
Xét về tính chất, Ng nhân điều kiện phạm tội: Do muốn sử dụng ma túy, nên Nguyễn Đức Ng đã mua ma túy về mục đích để sử dụng, nhưng hành vi dự trữ để sử dụng chất ma túy là hoàn toàn trái phép, nên bị cáo phải chịu mức độ xử lý theo quy định của pháp luật.
Để tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo đã gây ra, cần phải lên án và xử phạt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội,cải tạo giáo dục có thời hạn tại trại giam,để bị cáo có thời gian suy nghĩ cải tạo rèn luyện mình thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Bị cáo khai báo rõ ràng thành khẩn; Ăn năn hối cải, thực sự ân hận về hành vi của mình. Đồng thời cũng xem xét chiếu cố để giảm nhẹ cho bị cáo, để qua đó thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội là: Bố bị cáo bị bệnh đã nhiều năm, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo có nghề nghiệp ổn định, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu,với số lượng ma túy ít,làm giảm nhẹ đáng kể tính nguy hiểm cho xã hội.
Ngoài ra, thực hiện hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 / 6 / 2017 của Quốc Hội về thi hành BLHS 2015. Căn cứ điểm b,d khoản 1 điều 2 của Nghị quyết,thì tội tàng trữ trái phép chất ma túy của BLHS 2015 có mức hình phạt khởi điểm thấp hơn, được tách ra từ tội ghép của điều 194 của BLHS năm 1999, nên được vận dụng tình tiết có lợi cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
*Vật chứng thu giữ: 01 gói chứa số ma túy còn lại là tang vật phạm tội được niêm phong, không có giá trị sử dụng nên tiêu hủy. Do không xác định được chiếc điện thoại có liên quan vụ án,nên trả lại điện thoại cho bị cáo.
Do đó, xử phạt bị cáo và xử lý vật chứng như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.
[5] Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoàng Mai trả xe máy cho bà Đậu Thị M là đúng trình tự pháp luật. Bà Đậu Thị M ,tại hồ sơ cũng như tại phiên tòa không có yêu cầu gì thêm, nên miễn xét.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
*Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS 1999.Nghị quyết số 41/ 2017/QH14 của Quốc hội. Khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.
Xử phạt Nguyễn Đức Ng 13(Mười ba) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/12/2017.
*Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015.
Tiêu hủy số ma túy còn lại đã niêm phong.
Trả cho bị cáo Nguyễn Đức Ng 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, bên trong có 01 sim thuê bao số 0868785751.
Đặc điểm và số lượng vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Hoàng Mai và Chi cục THADS thị xã Hoàng Mai ngày 08/02/2018.
*Án phí: Bị cáo Nguyễn Đức Ng phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
*Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: -VKSND tx Hoàng Mai; -VKSND tỉnh Nghệ An; -Bị cáo; -Cơ quan CSĐT-CA tx Hoàng Mai; -Chi cục THADS tx Hoàng Mai; -THAHS; -Lưu VPTA; -Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Viết Hằng |