- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - Bị truy tố tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/HS-ST Ngày: 24-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N D N THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thanh Thảo và bà Trần Thị Bích Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân thành ph Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn K, sinh năm 1986 tại tỉnh Đồng Tháp
Nơi cư trú: khóm H, Phường T4, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
Nghề nghiệp: Làm thuê;
Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12
Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1952 (chết)
Vợ: Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1991
Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2015
Tiền án, tiền sự: Không
B t theo quyết định truy nã: Ngày 25/01/2018
Tạm giữ: Ngày 26/01/2018
Tạm giam: Ngày 29/01/2018
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S.
Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyên đơn dân sự: + Tổng công ty X – Chi nhánh S
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hùng O
Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1980 (vắng mặt)
ĐKTT: khu dân cư khóm E, phường A1, thành S, tỉnh Đồng Tháp
- Ngư i có quy n i, ngh a v iên quan:
+ Ông Huỳnh Trung U, sinh năm 1960 (vắng mặt)
ĐKTT: Khóm H1, Phường R, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
- Ngư i àm chứng:
+ Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1982 (vắng mặt)
ĐKTT: khóm H, Phường T4, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Nguyễn Văn K và Nguyễn Thành T là bạn bè với nhau. Nguyễn Thành T là công nhân lau bóng gạo tại tổng công ty X – chi nhánh S thuộc ấp T1, xã T2, thành phố S. Khoảng giữa tháng 4/2012, lợi dụng lúc công nhân nghỉ giữa ca (ca đêm), T đã 02 lần lấy 20 thanh cao su (mỗi lần lấy 10 thanh cao su) dùng để làm tr ng gạo, mỗi thanh dài 01 mét, chưa qua sử dụng đem cất giấu phía trước cổng rào công ty. Đến hết giờ làm, T đến nơi cất giấu lấy 20 thanh cao su đem về cất giấu tại ngôi nhà bỏ hoang gần nhà T thuộc khóm H, Phường T, thành phố S. Sau đó, T gặp và nói cho Nguyễn Văn K biết đã lấy trộm được 20 thanh cao su và rủ K đem đi bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì được Kiệt đồng ý và cùng T đến ngôi nhà hoang lấy 20 thanh cao su. Đồng Thời K mượn xe mô tô (không nhớ biển số) của người bạn tên T3 (không nhớ họ tên, địa chỉ), K điều khiển xe chở T đem 20 thanh cao su đến công ty trách nhiệm hữu hạn Q thuộc xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp bán cho ông Huỳnh Trung U 10 thanh cao su với giá 525.000 đồng và bán cho người đàn ông mua cao su dạo (không biết tên, địa chỉ) 10 thanh cao su với giá 525.000 đồng, tổng cộng là 1.050.000đ, sau đó chia mỗi người 200.000 đồng, số tiền còn lại K và T cùng tiêu xài chung.
Đến ngày 17/5/2012, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thu hồi được 06/10 thanh cao su mà K bán cho ông U. Quá trình cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc K bỏ trốn. Đến ngày 25/01/2018 K bị b t theo quyết định truy nã.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/HĐ.ĐGTS ngày 17/5/2012 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Sa Đéc kết luận: giá trị định giá 20 thanh cao su nâu dài 01 mét là 4.800.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSND-TPSĐ ngày 26/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
Sau khi công bố cáo trạng, Viện kiểm sát bổ sung cáo trạng truy tố như sau:
Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực quy định về mức hình phạt nặng hơn với Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhưng do hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện trước ngày 1/1/2018. Do đó căn cứ Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội đề nghị áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 để xét xử theo hướng có lợi cho bị cáo và bổ sung: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng tại Điểm i, Khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:
p dụng Khoản 1 Điều 250, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” với mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với bản kết luận định giá tài sản số 23/HĐ.ĐGTS ngày 17/05/2012 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Sa Đéc và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng giữa tháng 4/2012, Nguyễn Văn K biết rõ 20 thanh cao su trị giá 4.800.000 đồng là do Nguyễn Thành T phạm tội mà có do chiếm đoạt của tổng công ty X – chi nhánh S, nhưng Nguyễn Văn K vẫn đồng ý cùng T đem 20 thanh cao su trên đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu công dân và xâm hại đến trật tự công cộng, trật tự xã hội, gây ảnh hưởng đến hoạt động đúng đ n của các cơ quan có thẩm quyền về điều tra, truy tố và xét xử tội phạm, gián tiếp khuyến khích tội phạm gia tăng.
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích tư lợi cá nhân. Bị cáo biết rõ 20 thanh cao su là do T chiếm đoạt của tổng công ty X – Chi nhánh S mà có, nhưng bị cáo vẫn đồng ý cùng với T đi bán 20 thanh cao su trên để lấy tiền chia nhau tiêu xài.
Bị cáo là người đã thành niên, đã có vợ, con, tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, cố g ng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất chăm lo cho gia đình, làm tấm gương tốt cho con cái noi theo. Thế nhưng khi được T nói cho biết đã chiếm đoạt được 20 thanh cao su của tổng công ty X – chi nhánh S và rủ bị cáo đem đi bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, lẽ ra bị cáo phải từ chối, khuyên can T đem trả lại các tài sản đã chiếm đoạt, đồng thời trình báo cơ quan chức năng, thế nhưng do có tư tưởng xấu, hám lợi, bị cáo đồng ý đi tiêu thụ tài sản do T phạm tội mà có. Quá trình điều tra bị cáo bỏ trốn, đến ngày 25/01/2018 K bị b t theo quyết định truy nã, gây khó khăn cho quá trình điếu tra, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật.
2 Từ những phân tích trên cho thấy, hành vi của bị cáo là đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Hội đồng xét xử xét thấy Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực, quy định về mức hình phạt nặng hơn với Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, do hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện trước ngày 01/01/2018. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 để xét xử bị cáo. Tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Điều 250 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Ngư i nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu th tài sản biết rõ à do ngư i khác ph m tội mà có, thì bị ph t ti n từ n m tri u đồng đến n m mươi tri u đồng, ph t cải t o không giam giữ đến ba n m hoặc ph t tù từ sáu tháng đến ba n m.
2. …………………..”
Xét thấy, tuy hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. Xét thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, b t bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết t ng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, tài sản thiệt hại đã thu hồi được một phần và hoàn trả cho tổng công ty X – chi nhánh S, bị cáo có người thân tham gia cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, vì vậy cần áp dụng Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong bằng bản án số 47/2012/HSST ngày 23/8/2012 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Sa Đéc.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đối với bị cáo K khai vào ngày 12/5/2012, bị cáo và T còn chiếm đoạt của tổng công ty X – chi nhánh S 55kg gạo trị giá 462.000 đồng, xét thấy chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nên Công an thành phố S đã ra Quyết định xử lý hành chính theo quy định.
Đối với Nguyễn Thành T có hành vi chiếm đoạt 20 thanh cao su của tổng công ty X – chi nhánh S đã bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) S xét xử bằng bản án số 47/2012/HSST ngày 23/8/2012.
Đối với ông Huỳnh Trung U có mua 10 thanh cao su do bị cáo K bán nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 250, của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K mức án 07 tháng tù (Bảy tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2018 (ngày b t theo quyết định truy nã).
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết và xử lý xong.
Về án phí: p dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016
Bị cáo Nguyễn Văn K nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Riêng nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b) - VKSND TP Sa Đéc; (2b) - Công an TP Sa Đéc; (4b) - Chi cục THA TP Sa Đéc; (1b) - Sở Tư pháp; (1b) - Thi hành án phạt tù; (1b) - Những người tham gia tố tụng; (4b) - Lưu VT, TP; (2b) - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bé Mười |