- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn H - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 104, Điều 33, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999,
- Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/HS-ST Ngày 03-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Phương
Ông Lê Tất Kề
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2018/HSST-QĐ ngày 05 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Vũ Văn H, sinh năm 1982 tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ dân phố L 3, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Vũ Thị H (đã ly hôn) và Nguyễn Thị P (chưa đăng ký kết hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án: Tại bản án số ngày 27/4/2006, Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra tù ngày 24/10/2008, nhưng chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng và tiền phạt 5.000.000 đồng (chưa được xóa án tích); tiền sự, nhân thân: Năm 2003 và 2011 bị tập trung cai nghiện bắt buộc (các tiền sự đã được xóa); bị bắt truy nã, tạm giữ từ ngày 06/3/2018, chuyển tạm giam từ ngày 15/3/2018. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Thế Q; sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 1 K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; hiện không rõ đang ở đâu. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Vũ Thành Đ. Vắng mặt.
2. Anh Bùi Công K. Vắng mặt.
3. Anh Đặng Ngọc H1. Vắng mặt.
4. Anh Trần Anh D. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21h ngày 29/3/2014, Vũ Văn H đến quán bi a của anh Vũ Thành Đ ở số 90 đường C, tổ dân phố L 1, phường T, quận H, Hải Phòng thuê 01 bàn bia chơi cùng anh Đặng Ngọc H1. Khi H và anh H1 đang chơi thì Nguyễn Thế Q xin chơi cùng, H không đồng ý nên giữa Q và H xảy ra mâu thuẫn cãi nhau được mọi người can ngăn nên H bỏ ra ngoài quán. Q tiếp tục có lời nói xúc phạm H thì bị Phùng Văn H2 cũng đang chơi bia a tại đấy cầm 01 gậy bi a bằng gỗ đánh vào miệng làm Q bị gãy 01 chiếc răng cửa hàm dưới. Sự việc được mọi người can ngăn nên H2 đi ra ngoài, còn Q vào nhà vệ sinh rửa vết thương.
Sau khi rửa vết thương, Q từ trong quán đi ra ngoài một tay cầm gậy bi a, một tay cầm cốc thủy tinh chạy sang phía H2 đang đứng bên kia đường ném cốc thủy tinh về phía H2 nhưng không trúng. Q nhìn thấy H đang đứng sát vỉa hè, cách quán khoảng 3m nghe điện thoại liền chạy đến dùng chân đạp 01 phát vào ngực H làm H ngã ra đất. Q quay lưng lại phía H và đi vào quán. H liền đứng dậy dùng tay phải lấy ra 01 khẩu súng mang theo để trong túi quần bên phải, dùng tay trái xoay ổ đạn hướng vào phía chân của Q bắn 01 phát trúng vào phía sau đùi bên phải gây thương tích. Ngày 30/3/2014, Nguyễn Thế Q có đơn đề nghị khởi tố đối với Phùng Văn H2 và Vũ Văn H.
Sau khi bắn Q, H bỏ trốn. Ngày 06/3/2018 H bị bắt theo Quyết định truy nã.
Vật chứng thu giữ: 01 vật thể hình trụ bằng kim loại, màu xám dài 12mm, đường kính 5,4mm, một đầu tù, một đầu bằng, trên thân có một số rãnh ngang được lấy ra từ bên trong bắp đùi phải của Nguyễn Thế Q tại khoa ngoại 10- Bệnh viện Việt Tiệp, Hải Phòng.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 154-PY/2014 ngày 10/4/2014 của Trung tâm Pháp y Hải Phòng căn cứ vào hồ sơ khám chữa vết thương của Nguyễn Thế Q kết luận: “Chấn thương gãy 01 răng cửa hàm dưới chưa lắp răng giả có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên và làm giảm 03% sức khỏe. Chấn thương vùng đùi phải có đặc điểm do hỏa khí (đạn bắn) gây nên và làm giảm 05% sức khỏe. Tổng hợp các thương tích trên theo phương pháp cộng lùi và làm tròn số thì nạn nhân bị giảm 08% sức khỏe”.
Tại bản Kết luận giám định số 1547/PC54(P3) ngày 23/5/2014, kết luận: “01 mẫu vật gửi giám định là đầu đạn của loại đạn cỡ 5.6 x 15.5mm và được bắn ra từ nòng súng không có đường rãnh xoắn (súng ổ quay, súng bút), các loại súng nêu trên có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng - thuộc vũ khí quân dụng. Khi sử dụng bắn vào cơ thể người có thể gây sát thương (chết hoặc bị thương)”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị can Vũ Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Đối với khẩu súng Vũ Văn H sử dụng bắn Nguyễn Thế Q, H khai: Đã mua của một người đàn ông không quen biết tại đường tàu M, quận L, Hải Phòng vào tháng 02 năm 2014 với giá 6.000.000 đồng. Khẩu súng là loại súng tự chế, dạng côn xoay, dài khoảng 11cm, màu đen, báng súng dài khoảng 7cm, cò súng màu vàng, trong ổ xoay có sẵn 03 viên đạn, Hưởng mang theo để phòng thân. Sau khi bắn Q, H đã vất vào bụi cỏ sát bờ mương gần chân cầu giao nhau giữa đường C và N, quận H. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.
Tại bản cáo trạng số 15/CT- VKS ngày 24/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Vũ Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự 1999.
Tại phiên toà, bị cáo Vũ Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với xã hội làm ăn lương thiện.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015), điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự 1999 đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” và xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tạm giữ 01 vật thể hình trụ bằng kim loại, màu xám dài 12mm, đường kính 5,4mm, một đầu tù, một đầu bằng, trên thân có một số rãnh ngang và giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Hải An để tiếp tục điều tra làm rõ hành vi tàng trữ, sử dụng súng của Vũ Văn H.
- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nhận định các tình tiết của vụ án:
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại Nguyễn Thế Q, phù hợp với lời khai của những người làm chứng Vũ Thành Đ, Bùi Công K, Đặng Ngọc H1, Trần Anh D; phù hợp với Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường; phù hợp với Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của anh Nguyễn Thế Q, vật chứng thu được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn trong sinh hoạt trước đó và bị Nguyễn Thế Q dùng chân đạp vào ngực nên khoảng 22 giờ ngày 29/3/2014, tại quán cà phê bi a số 90 C, tổ dân phố L 1, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng, Vũ Văn H đã có hành vi dùng 01 khẩu súng tự chế bắn 01 phát vào đùi phía sau bên phải của Q gây thương tích, làm giảm 05% sức khỏe. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội "Cố ý gây thương tích" vi phạm Điều 104 của Bộ luật Hình sự 1999.
Về tình tiết định khung hình phạt: Căn cứ tỷ lệ thương tật và hung khí bị cáo sử dụng để gây thương tích cho anh Q theo kết luận giám định nói trên và theo hướng dẫn tại tiểu mục 3.1 Mục 3 của Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hành vi của bị cáo phạm vào điểm a khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự 1999 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện do lỗi cố ý, đã xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy cần phải được xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà và trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền sự về việc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, mặc dù đã được xóa nhưng cũng cần phải xem xét về nhân thân của bị cáo khi quyết định hình phạt, đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây nên, căn cứ quy định pháp luật hình sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình nhân thân, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian và xử phạt bị cáo mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại Nguyễn Thế Q vắng mặt tại địa phương, hiện không xác định được ở đâu nên chưa xác định yêu cầu bồi thường dân sự trong vụ án. Cơ quan điều tra đã tách vấn đề giải quyết bồi thường, khi nào bị hại có yêu cầu sẽ hướng dẫn giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Gồm 01 vật thể hình trụ bằng kim loại, màu xám dài 12mm, đường kính 5,4mm, một đầu tù, một đầu bằng, trên thân có một số rãnh ngang. Xét đó là vật liên quan đến hành vi tàng trữ, sử dụng súng của Vũ Văn H nên cần tạm giữ và giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Những vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Thế Q đã có hành vi dùng chân đạp vào ngực Vũ Văn H. Quá trình điều tra H không đề nghị giám định thương tích cũng không yêu cầu giải quyết nên không xem xét xử lý.
Đối với Phùng Văn H2, có hành vi dùng gậy bi a đánh vào miệng Nguyễn Thế Q làm gẫy 01 răng cửa hàm dưới giảm 03% sức khỏe. Sau khi phạm tội đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An khởi tố vụ án, khởi tố bị can để điều tra theo yêu cầu của bị hại về tội Cố ý gây thương tích. Quá trình điều tra Nguyễn Thế Q đã có đơn rút yêu cầu khởi tố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đình chỉ điều tra bị can đối với H2.
Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng súng của Vũ Văn H và người đàn ông đã bán khẩu súng cho H. Hiện nay chưa thu giữ được khẩu súng, chưa xác định được người bán nên chưa đủ cơ sở xử lý đối với H cũng như người đàn ông bán khẩu súng cho H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An đã tách ra tiếp tục điều tra là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 104, Điều 33, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999,
Xử phạt Vũ Văn H 18 (mười tám) tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích". Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 3 năm 2018.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tạm giữ và giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An quản lý 01 vật thể hình trụ bằng kim loại, màu xám dài 12mm, đường kính 5,4mm, một đầu tù, một đầu bằng, trên thân có một số rãnh ngang (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An và Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Buộc Vũ Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
| - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND quận Hải An; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an quận Hải An; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hải An; - Phòng PV27 - CA TP Hải Phòng; - Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hải An; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bình |