- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Xuân B tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Xuân B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CỪ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/HS-ST Ngày: 13-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CỪ - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Dũng và ông Tô Sỹ Thái;
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hùng, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2018, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Quang Hưng, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2018/TLST-HS ngày 18/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2018 đối với:
Bị cáo Hoàng Xuân B, sinh năm 1979 tại thôn D, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: thôn D, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân T và con bà Đỗ Thị T1; Vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03/11/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc; ngày 07/5/2010 bị Công an Thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 05/8/2010 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phù Cừ quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh về hành vi nghiện ma túy; ngày 06/5/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 25/01/2016); tạm giữ, tạm giam: bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2018 chuyển tạm giam từ ngày 14/3/2018 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Hoàng Xuân T, sinh năm 1952; (có mặt)
2. Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1972; (vắng mặt)
Đều cùng nơi cư trú: Thôn D, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên;
Người làm chứng
Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1982; (vắng mặt); nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên;
Người chứng kiến:
Ông Đỗ Đức G, sinh năm 1956; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 08/3/2018, Hoàng Xuân B mượn xe mô tô biển kiểm soát 89H2-9169 của anh Hoàng Văn D, sinh năm 1972 ở thôn D, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên để đến nhà anh Lê Hồng Q ở thôn T, xã P, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên để hỏi mua ma túy về sử dụng. Khi B đến nơi thì chỉ gặp chị T3 là vợ anh Q ở lán nơi để bàn uống nước nhà chị T3, B hỏi chị T3 “Dạo này anh Q có sử dụng ma túy không? Xem có không thì để lại cho một ít để sử dụng”, đồng thời B đưa cho chị T3 số tiền 300.000 đồng. Chị T3 không nói gì, cầm tiền đi vào trong nhà một lát, sau đó chị T3 quay ra thì B hỏi chị T3 có ma túy không thì chị T3 nói ở trên bàn. B thấy 03 gói ma túy ở trên bàn nên đã cầm bỏ vào túi quần phía sau bên trái rồi về, khoảng 10h cùng ngày, khi đi đến khu vực đường 386 gần cây xăng thuộc thôn T, xã P, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên thì bị kiểm tra hành chính và bắt giữ, quản lý một xe máy, một điện thoại di động và số tiền 100.000 đồng.
Quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Xuân B, Cơ quan điều tra không phát hiện thu giữ đồ vật gì có liên quan; khám xét khẩn cấp nơi ở của anh Lê Hồng Q, Cơ quan điều tra có thu giữ một số đồ vật và đã xem xét khởi tố tại một vụ án khác.
Kết luận giám định số 10/KLGĐ-PC54 ngày 08/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại heroine có khối lượng 0,1203 gam. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 0,1027 gam mẫu giám định M1.
Quá trình điều tra Hoàng Xuân B khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện; chị Nguyễn Thị T3 khai không bán ma túy cho B. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho bị cáo đối chất với chị T3 nhưng không làm rõ và chứng minh được việc chị T3 bán ma túy cho B.
Tại phiên tòa:
+ Bị cáo Hoàng Xuân B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - ông Hoàng Xuân T khẳng định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1208 là tài sản hợp pháp của ông. Ông T đã nhận lại và không có ý kiến đề nghị gì.
Bản cáo trạng số 16/CT-VKSPC ngày 18/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Hoàng Xuân B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2018. Không áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung
̀ là pha ̣t tiền đối vớ i bi ̣ cáo. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, bao gói M1 trong phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình số 10/KLGĐ; 01 xi lanh loại 3ml. Trả lại bị cáo số tiền 100.000 đồng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Hoàng Xuân B, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ, không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Cừ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Biên bản vi phạm hành chính, phù hợp các vật chứng thu giữ và Kết luận giám định. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 08/3/2018 tại khu vực đường 386 gần cây xăng thuộc thôn T, xã P, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; Hoàng Xuân B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1203 gam ma túy, loại heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo Hoàng Xuân B đa pha ̣̃
m tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi bổ sung năm 2017, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, góp phần gia tăng tê ̣ na ̣n xa hô ̣̃ i và các tô ̣i pha ̣m khác, do đó cần phải xét xử và áp dụng một hình phạt nghiêm khắc để đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm.
Khi quyết đi ̣nh hinh pha ̣t, Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất và mức
̀ độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bố đẻ bị cáo là thương binh, được Nhà nước tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang, Huy chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến sĩ giải phóng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử lý nhiều lần về các hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần có mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và là người biết tuân thủ pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có nguồn thu nhập và tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Về vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định, vỏ bao gói M1 trong phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình số 10/KLGĐ là chất nhà nước cấm tàng trữ và 01 xilanh loại 3ml không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
- Số tiền 100.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo.
- 01 xe máy nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát 89H2-9169 là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn D, anh D không biết B sử dụng để đi mua ma túy, không liên quan đến hành vi phạm tội Cơ quan điều tra đã trả lại anh D là đúng quy định của pháp luật.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Xuân T, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; Cơ quan điều tra đã trả lại ông T là đúng quy định của pháp luật.
- Các vật chứng thu giữ tại nhà anh Lê Hồng Q sẽ được giải quyết trong vụ án đối với Lê Hồng Q, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bị cáo khai chị Nguyễn Thị T3 là người đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã cho bị cáo và chị T3 tiến hành đối chất nhưng không làm rõ và chứng minh được việc chị T3 bán ma túy cho bị cáo; ngoài lời khai của bị cáo ra thì không có căn cứ gì chứng minh chị T3 đã bán ma túy cho bị cáo; nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với chị Nguyễn Thị T3.
Hành vi vi phạm pháp luật của anh Lê Hồng Q đã được Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và đang được điều tra bằng vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý đối với Lê Hồng Q trong vụ án này.
Về án phí: Bị cáo bi ̣ kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Xuân B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Xuân B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2018.
Không áp dụng hinh pha ̣t bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo.
̀
Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, vỏ bao gói M1 trong phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 xilanh loại 3ml.
Trả lại bị cáo Hoàng Xuân B số tiền 100.000 đồng.
(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/5/2018 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cừ).
Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Xuân B phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày. Người có mặt được tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - VKSND huyện Phù Cừ; VKSND tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên; - CQĐT & VP CA huyện Phù Cừ; - Cơ quan Thi hành án Hình sự & Dân sự; - TAND tỉnh Hưng Yên; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phượng |