- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đình Q, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm số 82/2017/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo Trần Đình Q.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/HS-PT Ngày: 26/02/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Huy Hiểu.
Ông Mạc Minh Quang.
- Thư ký Tòa án phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2018/TLPT-HS ngày 01 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Đình Q do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 82/2017/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Đình Q, sinh năm 1987 ; Trú quán : khu 5, phường H, thành phố D, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa : 7/12 ; con ông Trần Đình H và bà Trần Thị C; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự : Không ; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2017 đến nay (Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 28/10/2017, tại trục đường 191B thuộc địa phận thôn Đ, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện K bắt quả tang thu giữ tại tay phải của Trần Đình Q 04 gói giấy màu trắng, kích thước (1x2) cm bên trong có chất bột dạng cục màu trắng; thu giữ tại túi quần Q đang mặc 01 bơm kim tiêm, 01 ống nước cất chưa sử dụng. Q khai chất bột màu trắng trong 04 gói giấy là Hêrôin Q vừa mua được mục đích mang về sử dụng.
Quá trình điều tra xác định: Bị cáo nghiện chất ma túy, khoảng 13 giờ ngày 28/10/2017 bị cáo bắt xe buýt đi từ nhà ở phường H, thành phố D đến thôn Đ, xã P, huyện K gặp và mua của một người phụ nữ (Bị cáo không biết tên, địa chỉ của người này) số ma túy trên hết 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Tại Kết luận giám định số 435/KLGĐ-PC54 ngày 30/10/2017 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng thu giữ của Trần Đình Q gửi đến giám định có trọng lượng là 0,223g là loại Hêrôin.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 82/2017/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2017, TAND huyện K quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Đình Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS; Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội khóa XIV; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 đối với bị cáo Trần Đình Q.
Phạt bị cáo Trần Đình Q 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày bị tạm giữ.
Ngoài ra bản án còn quyết định về tội danh; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 10 tháng 01 năm 2018, bị cáo Q có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Trần Đình Q giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương phát biểu tại phiên tòa:
Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Q. Tại phiên tòa bị cáo có xuất trình “Huy chương kháng chiến” của bà nội bị cáo là bà Vũ Thị T tuy nhiên bị cáo cũng như bố mẹ bị cáo không phải là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc mà theo như bị cáo trình bày tại phiên tòa thì hiện tại bà Vũ Thị T đang ở với chú của bị cáo do đó không có căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. VKSND đã phân tích các tình tiết của vụ án và xác định bản án sơ thẩm đã xét xử đối với Q là phù hợp nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm .
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Bị cáo kháng cáo trong thời hạn quy định tại Điều 333 BLTTHS nên là kháng cáo hợp lệ.
Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Chiều ngày 28/10/2017, tại đường 191B thuộc địa phận thôn Đ, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương bị cáo Trần Đình Q có hành vi mua và cất giấu trái phép 0,223g chất ma túy Hêrôin, mục đích để sử dụng đã bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện K bắt quả tang, thu giữ vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 28/10/2017. Bị cáo không kháng cáo về tội danh.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy:
Tại phiên tòa bị cáo Q đưa ra căn cứ là gia đình bị cáo có bà nội là Vũ Thị T được Nhà nước trao tặng “Huy chương kháng chiến” hạng nhì trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo và bố mẹ bị cáo không phải là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc bà Vũ Thị T theo như bị cáo cung cấp thì hiện tại thì bà T hiện đang ở với chú của bị cáo do đó bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của BLHS năm 1999; theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 thì đây là quy định theo hướng có lợi cho bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử Q 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày bị tạm giữ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" là phù hợp với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết gì mới nên không có căn cứ giảm nhẹ cho bị cáo mà cần y án sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 355 BLTTHS.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Q không được chấp nhận nên bị cáo Q phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 355 BLTTHS; khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS; Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội khóa XIV; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 đối với bị cáo Trần Đình Q.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đình Q, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm số 82/2017/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo Trần Đình Q.
Tuyên bố bị cáo Trần Đình Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Phạt bị cáo Trần Đình Q 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 28/10/2017.
2. Về án phí: Bị cáo Trần Đình Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm hình sự.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 26/02/2018.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Phòng HSNV-CA tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - TAND huyện K (2 bản); - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, Tòa Hình sự. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Thanh Thủy |